Quy hoạch không gian sản xuất, giảm áp lực ô nhiễm tại cụm công nghiệp làng nghề
Làng nghề từ lâu đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, tạo việc làm và duy trì những giá trị văn hóa truyền thống. Từ sản xuất đồ gỗ, cơ khí, gốm sứ đến dệt may, chế biến nông sản, nhiều ngành nghề đã hình thành mạng lưới sản xuất gắn liền với đời sống cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng quy mô, tình trạng nhà xưởng xen kẽ khu dân cư tại một số làng nghề đang đặt ra những thách thức về mặt bằng, hạ tầng và kiểm soát môi trường.
Hoạt động sản xuất trong không gian chật hẹp, thiếu hệ thống thu gom chất thải đồng bộ có thể làm phát sinh bụi, tiếng ồn, khí thải và nước thải chưa được xử lý phù hợp. Đối với các cơ sở chế biến nông sản, nhuộm, gia công kim loại hay sản xuất đồ gỗ, đặc điểm chất thải khác nhau đòi hỏi giải pháp kiểm soát riêng. Trong khi đó, nhiều hộ sản xuất có quy mô nhỏ, hạn chế về vốn và diện tích nên khó đầu tư đầy đủ công trình xử lý môi trường độc lập.
Trước thực tế này, xây dựng cụm công nghiệp làng nghề trở thành giải pháp quan trọng nhằm tổ chức lại không gian sản xuất. Việc đưa các cơ sở ra khỏi khu dân cư, bố trí vào khu vực tập trung giúp địa phương chủ động quy hoạch mặt bằng, giao thông, cấp thoát nước và các công trình kỹ thuật. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hoạt động sản xuất có điều kiện phát triển ổn định hơn, đồng thời thuận lợi cho công tác quản lý và giám sát môi trường.
Theo Nghị định số 32/2024/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 303/2026/NĐ-CP, cụm công nghiệp làng nghề là cụm công nghiệp có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho việc di dời, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong làng nghề có nghề truyền thống được công nhận. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để ưu tiên bố trí mặt bằng cho các cơ sở sản xuất làng nghề, đồng thời gắn quá trình phát triển cụm công nghiệp với yêu cầu sắp xếp lại hoạt động sản xuất.
Tuy nhiên, di dời nhà xưởng không đồng nghĩa với việc vấn đề ô nhiễm được giải quyết hoàn toàn. Nếu cụm công nghiệp chỉ tập trung các cơ sở sản xuất mà thiếu hệ thống xử lý chất thải, kiểm soát khí thải và quản lý vận hành, nguy cơ ô nhiễm vẫn có thể tiếp diễn. Vì vậy, quy hoạch cần xác định rõ ngành nghề tiếp nhận, quy mô sản xuất, khả năng đáp ứng của hạ tầng và yêu cầu bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.
Đầu tư hạ tầng xử lý chất thải, thúc đẩy sản xuất xanh
Trong xây dựng cụm công nghiệp làng nghề, hạ tầng môi trường cần được xem là một trong những yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trước hết, hệ thống thu gom, thoát nước mưa và nước thải phải được thiết kế phù hợp, hạn chế tình trạng nước thải sản xuất xả trực tiếp ra môi trường hoặc gây ảnh hưởng đến nguồn tiếp nhận. Đối với những ngành có đặc tính nước thải khác nhau như nhuộm, chế biến nông sản, gia công kim loại và sản xuất thực phẩm, cần phân loại nguồn thải, có giải pháp xử lý sơ bộ và kiểm soát phù hợp trước khi đấu nối vào hệ thống chung.
Một hệ thống xử lý nước thải tập trung chỉ phát huy hiệu quả khi các cơ sở sản xuất thực hiện đúng yêu cầu đấu nối, xử lý sơ bộ đối với nguồn thải đặc thù và không đưa các chất ô nhiễm vượt khả năng tiếp nhận của hệ thống. Chủ đầu tư hạ tầng cần xây dựng phương án vận hành, bảo dưỡng, kiểm soát chất lượng nước thải và giám sát hoạt động xả thải. Cùng với đó, các cơ sở sản xuất phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm xử lý chất thải phát sinh trong phạm vi hoạt động của mình.
Đối với khí thải và bụi, giải pháp cần được triển khai ngay tại nguồn phát sinh. Các xưởng gỗ có thể đầu tư hệ thống hút bụi, thu gom mùn cưa; cơ sở cơ khí cần bố trí thiết bị thông gió, hút khói và giải pháp giảm tiếng ồn; các cơ sở chế biến nông sản cần kiểm soát mùi, nước thải và phụ phẩm hữu cơ. Việc bố trí cây xanh cách ly, khoảng cách phù hợp giữa các khu sản xuất và khu vực xung quanh cũng góp phần cải thiện điều kiện môi trường.
Đáng chú ý, ngày 12/10/2026, Bộ Công Thương ban hành Chỉ thị số 11/CT-BCT về tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư, phát triển cụm công nghiệp trong tình hình mới. Văn bản đặt mục tiêu bảo đảm 100% cụm công nghiệp có nước thải được xử lý đạt quy chuẩn môi trường trong giai đoạn 2026–2030, theo định hướng tại Kết luận số 75-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương. Đây là yêu cầu quan trọng, thúc đẩy các địa phương và chủ đầu tư tập trung nguồn lực hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý nước thải, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động môi trường tại các cụm công nghiệp.
Bên cạnh xử lý chất thải, chuyển đổi sang phương thức sản xuất sạch hơn cũng là yêu cầu cần được quan tâm. Các cơ sở có thể từng bước thay thế máy móc tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng nguyên liệu tiết kiệm, cải tiến quy trình để giảm phế phẩm và tái sử dụng nước trong những công đoạn phù hợp. Với các làng nghề chế biến nông sản, phụ phẩm sau sản xuất nếu được phân loại và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật có thể trở thành nguyên liệu cho hoạt động sản xuất khác, góp phần giảm lượng chất thải phải xử lý.
Một ví dụ đáng chú ý là Cụm công nghiệp làng nghề Hòa Bình – Giai đoạn 1 tại xã Hòa Bình, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo địa danh tại thời điểm ban hành quyết định. Theo Quyết định số 1367/QĐ-UBND ngày 11/3/2025 của UBND thành phố Hà Nội, cụm công nghiệp có diện tích 7,04 ha, định hướng tiếp nhận các ngành nghề như sản xuất lược sừng, sản phẩm từ xương sừng, mộc dân dụng, cơ khí, dệt may và vật liệu xây dựng. Dự kiến tổng mức đầu tư là 206,131 tỷ đồng, tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật là 24 tháng kể từ ngày ban hành quyết định thành lập. Dự án định hướng phát triển công nghiệp xanh, sạch, đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung, hệ thống thu gom nước thải và nước mặt riêng biệt, khu vực tập kết chất thải và cây xanh. Đây là ví dụ về việc đưa yêu cầu môi trường vào định hướng quy hoạch, đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp làng nghề. Hiệu quả thực tế cần tiếp tục được đánh giá khi các công trình hoàn thành và đi vào vận hành.
Tháo gỡ khó khăn, bảo đảm sinh kế và phát triển làng nghề bền vững
Mặc dù có nhiều lợi thế, quá trình xây dựng cụm công nghiệp làng nghề vẫn đối mặt với những khó khăn về vốn đầu tư, giải phóng mặt bằng và khả năng tham gia của các hộ sản xuất. Đối với nhiều gia đình, cơ sở sản xuất không chỉ là nơi tạo thu nhập mà còn gắn với nhà ở, công cụ lao động và hoạt động kinh doanh qua nhiều thế hệ. Vì vậy, việc di dời cần có lộ trình phù hợp, tránh gây xáo trộn sinh kế và làm gián đoạn hoạt động sản xuất.
Một trong những vấn đề cần quan tâm là khả năng tiếp cận mặt bằng và chi phí đầu tư của các hộ. Khi chuyển vào cụm công nghiệp, người sản xuất phải tính toán tiền thuê đất, xây dựng nhà xưởng, vận chuyển nguyên liệu, đầu tư thiết bị và chi phí xử lý chất thải. Nếu không có phương án hỗ trợ phù hợp, những cơ sở quy mô nhỏ có thể gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi. Do đó, địa phương cần công khai quy hoạch, phương án bố trí mặt bằng, tiến độ thực hiện và các khoản chi phí liên quan; đồng thời tạo điều kiện để hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, chương trình khuyến công, đào tạo nghề và chuyển giao công nghệ.
Bên cạnh chính sách hỗ trợ, vai trò của chủ đầu tư hạ tầng cũng cần được đề cao. Chủ đầu tư không chỉ có trách nhiệm xây dựng nhà xưởng, đường giao thông và hệ thống kỹ thuật mà còn phải bảo đảm các công trình môi trường được vận hành hiệu quả. Cần xác định rõ trách nhiệm quản lý, bảo dưỡng hệ thống xử lý nước thải, thu gom chất thải và giám sát các nguồn phát sinh ô nhiễm. Các khoản thu từ dịch vụ hạ tầng, xử lý chất thải cần được xây dựng minh bạch, phù hợp với chi phí vận hành và khả năng của cơ sở sản xuất.
Đối với chính quyền địa phương, công tác quản lý cần chuyển từ kiểm tra riêng lẻ từng hộ sang giám sát tổng thể hoạt động của cả cụm công nghiệp. Việc kiểm tra định kỳ, theo dõi chất lượng nước thải, kiểm soát khí thải và xử lý vi phạm phải được thực hiện thường xuyên. Đồng thời, cần khuyến khích các cơ sở áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và giảm lượng chất thải ngay từ khâu đầu vào. Đây là cách tiếp cận giúp giảm chi phí xử lý môi trường về lâu dài, thay vì chỉ tập trung khắc phục ô nhiễm sau khi đã phát sinh.
Đặc biệt, phát triển cụm công nghiệp làng nghề không nên tách rời nhiệm vụ bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống. Việc đưa hoạt động sản xuất ra khỏi khu dân cư cần đi cùng với bảo đảm điều kiện để nghệ nhân, thợ lành nghề tiếp tục truyền dạy kỹ thuật, duy trì bí quyết sản xuất và phát triển sản phẩm đặc trưng. Đối với những nghề có tiềm năng, địa phương có thể kết hợp không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm, hoạt động trải nghiệm và kết nối tiêu thụ, qua đó mở rộng giá trị kinh tế của nghề truyền thống.
Về lâu dài, các cụm công nghiệp làng nghề cần hướng đến mô hình sản xuất có trách nhiệm với môi trường, trong đó doanh nghiệp, hộ sản xuất, chủ đầu tư hạ tầng và chính quyền cùng tham gia thực hiện các mục tiêu phát triển xanh. Khi mặt bằng sản xuất được quy hoạch hợp lý, hệ thống xử lý chất thải hoạt động hiệu quả và công nghệ được đổi mới, làng nghề sẽ có thêm điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.
Xây dựng cụm công nghiệp làng nghề gắn với bảo vệ môi trường không chỉ là giải pháp giải quyết những bất cập trong sản xuất hiện nay mà còn là bước chuyển quan trọng trong tổ chức kinh tế nông thôn. Phát triển sản xuất phải đi đôi với bảo vệ môi trường, tạo sinh kế ổn định và gìn giữ bản sắc địa phương. Đây chính là nền tảng để các làng nghề tiếp tục phát huy giá trị truyền thống, thích ứng với yêu cầu phát triển mới và đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng nông thôn bền vững./.
