Ruộng lúa sinh thái kết hợp khai thác rươi: Hướng sản xuất mang lại giá trị kinh tế cao ở Hải Phòng

Vào vụ thu hoạch, rươi đồng nổi dày tại các vùng ven biển Hải Phòng, mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân. Dù giá bán năm nay giảm còn khoảng 130.000 – 150.000 đồng/kg do nguồn cung tăng, mỗi sào ruộng vẫn có thể cho thu hoạch khoảng 1 tạ rươi, tương đương doanh thu 13 – 15 triệu đồng. Đằng sau hiệu quả kinh tế ấy là mô hình kết hợp trồng lúa sinh thái và khai thác rươi tự nhiên, trong đó việc cải tạo đất, hạn chế sử dụng hóa chất và quản lý nguồn nước đóng vai trò quan trọng.
Nông dân thôn Trại Vực thu hoạch rươi. Ảnh: Chu Khôi.

Mùa rươi mang lại nguồn thu lớn cho nông dân

Tối 30/10, tại thôn Trại Vực, xã Chí Minh, thành phố Hải Phòng (trước đây thuộc huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương), không khí thu hoạch rươi diễn ra sôi động. Dọc các con mương chạy giữa cánh đồng, hàng trăm chiếc cống được thắp sáng để người dân đón rươi theo dòng nước chảy ra từ ruộng.

Đây là thời điểm rươi vào vụ, cũng là mùa thu nhập quan trọng của nhiều hộ nông dân địa phương. Dù giá bán năm nay thấp hơn so với những năm trước, sản lượng thu hoạch tăng đã giúp người dân duy trì nguồn thu đáng kể.

Bà Nguyễn Thị Hà, người dân thôn Trại Vực, cho biết gia đình có hơn 6 sào ruộng sản xuất theo mô hình trồng lúa kết hợp khai thác rươi tự nhiên. Mỗi năm, gia đình chỉ trồng một vụ lúa chiêm, nguồn thu chính đến từ khai thác rươi.

Năm trước, bình quân mỗi sào ruộng thu được khoảng 1 tạ rươi. Với diện tích hơn 6 sào, tổng sản lượng đạt khoảng 6 tạ. Rươi được bán với giá 220.000 đồng/kg, mang lại nguồn thu lớn cho gia đình. Năm nay, sản lượng dự kiến tiếp tục tăng nhưng giá bán giảm đáng kể. Riêng tối 30/10, gia đình bà thu hoạch gần 30 kg, bán hết với giá 140.000 đồng/kg.

Theo bà Hà, giá rươi biến động rất nhanh, phụ thuộc vào sản lượng thu hoạch và nhu cầu của thương lái. Có những ngày, giá bán buổi tối đã khác so với thời điểm đầu giờ tối, khiến người dân khó dự đoán mức giá trong những ngày tiếp theo.

Không chỉ mang lại thu nhập từ rươi, mô hình còn tạo thêm nguồn thu từ sản xuất lúa. Vụ lúa năm 2026, gia đình bà thu hoạch hơn 1 tấn thóc tươi trên diện tích hơn 6 sào, bình quân khoảng 1,7 – 2 tạ/sào. Thóc được Công ty Cổ phần Sinh thái Ruộng rươi (RuEco) thu mua ngay tại ruộng với giá 10.000 đồng/kg.

Theo bà Hà, năng suất lúa không cao nhưng việc kết hợp hai hoạt động sản xuất giúp gia đình có nguồn thu ổn định hơn. Ngay cả khi giá rươi giảm, hiệu quả kinh tế từ khai thác rươi vẫn cao hơn nhiều so với chỉ trồng lúa.

Để tạo môi trường thuận lợi cho rươi sinh trưởng, sau khi thu hoạch lúa, gia đình bà giữ lại rơm rạ trên ruộng nhằm bổ sung chất hữu cơ cho đất. Ngoài ra, người dân còn sử dụng trấu, ngô, tương và cải bắp để cải thiện môi trường đồng ruộng.

Cũng tại thôn Trại Vực, ông Trần Văn Sung (sinh năm 1972) là một trong những hộ tích tụ ruộng đất với quy mô lớn, tổng diện tích hơn 10 mẫu. Tối 30/10, gia đình ông thu hoạch gần 2 tấn rươi, bán cho thương lái với giá 130.000 đồng/kg, thu về khoảng 260 triệu đồng.

Tối 31/10, khi có mặt tại ruộng lúc 19 giờ 30, gia đình ông đã thu hoạch được khoảng 5 tạ rươi. Theo ông Sung, rươi dự kiến tiếp tục nổi vào ngày mồng 5 tháng 10 âm lịch. Với sản lượng đang tăng, ông dự tính vụ rươi năm nay có thể mang lại doanh thu khoảng 500 triệu đồng.

Để phát triển mô hình trên diện tích lớn, gia đình ông Sung đã đầu tư đáng kể vào tích tụ ruộng đất. Bắt đầu từ năm 2012 với số vốn khoảng 500 triệu đồng, đến năm 2022, ông tiếp tục mua thêm diện tích, nâng tổng vốn đầu tư tích tụ ruộng đất lên khoảng 2,3 tỷ đồng.

Trên diện tích canh tác, gia đình ông chỉ trồng một vụ lúa chiêm mỗi năm, chủ yếu nhằm cải tạo đất và tạo môi trường thuận lợi cho rươi phát triển. Giống lúa ST25 được Công ty RuEco cung cấp miễn phí. Khi lúa chín, công ty tổ chức thu hoạch, cân sản lượng và thanh toán cho chủ ruộng, với giá thóc tại ruộng dao động 10.000 – 15.000 đồng/kg tùy chất lượng.

Ông Sung cho biết gia đình không sử dụng phân bón hóa học mà dùng phân gà trộn với trấu, ủ ít nhất một năm trước khi đưa xuống ruộng. Một số chế phẩm sinh học cũng được sử dụng để xử lý phân hữu cơ, góp phần duy trì môi trường đất phù hợp cho rươi sinh trưởng.

Với phương thức canh tác này, năng suất lúa chỉ đạt khoảng 150 kg/sào, thấp hơn đáng kể so với mức 270 – 300 kg/sào ở những ruộng lúa có điều kiện sản xuất tốt. Tuy nhiên, nguồn thu từ rươi đã bù đắp phần chênh lệch, giúp mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất lúa đơn thuần.

Gia đình ông Trần Văn Sung bên sản phẩm rươi đã được đóng thùng xóp, chuẩn bị vận chuyển ra thị trường. Ảnh: Chu Khôi.

Phục hồi môi trường đất, khôi phục nguồn lợi rươi tự nhiên

Không chỉ riêng các hộ có diện tích lớn, mô hình lúa – rươi tại Trại Vực đã trở thành hướng sản xuất của nhiều gia đình trong vùng.

Quảng cáo

Ông Nguyễn Thanh Phong, người dân thôn Trại Vực, cho biết gia đình hiện có khoảng 5 ha ruộng, giao cho các con trực tiếp tổ chức sản xuất. Sản lượng rươi giữa các thửa ruộng có sự chênh lệch, phụ thuộc vào chất đất, điều kiện thổ nhưỡng và cách chăm sóc.

Năm trước, bình quân mỗi sào ruộng của gia đình ông thu hoạch khoảng 70 kg rươi, trong khi một số thửa ruộng khác trong vùng đạt 1 tạ, thậm chí 1,5 tạ/sào. Năm nay, gia đình dự kiến thu hoạch khoảng 2,5 – 3 tấn rươi, cao hơn mức 2,2 tấn của năm trước. Tuy nhiên, do giá bán giảm, doanh thu dự kiến vẫn chỉ tương đương khoảng 400 triệu đồng.

Theo ông Phong, khu vực sản xuất lúa kết hợp khai thác rươi tại thôn Trại Vực hiện có khoảng 150 ha, với hơn 200 hộ dân tham gia.

Nhìn lại quá trình phát triển của nghề khai thác rươi tại địa phương, ông Phong cho biết có giai đoạn nguồn lợi rươi suy giảm nghiêm trọng. Trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2015, sản lượng có thời điểm chỉ đạt 3 – 5 kg/sào.

Theo nhận định của ông, việc sử dụng nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp là một trong những nguyên nhân khiến môi trường đồng ruộng thay đổi, không còn thuận lợi cho rươi sinh trưởng. Rươi vốn được người dân xem là loài sinh vật nhạy cảm với điều kiện môi trường đất và nước.

Bước ngoặt xuất hiện từ năm 2017, khi Công ty RuEco liên kết với nông dân Trại Vực triển khai trồng lúa sinh thái và bao tiêu toàn bộ thóc thu hoạch. Theo quy trình sản xuất, người dân không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, thay vào đó sử dụng phân gà ủ với trấu để bổ sung dinh dưỡng cho đất.

Từ năm 2018, người dân từng bước quy hoạch vùng sản xuất, mỗi hộ quản lý một khu vực riêng, chú trọng cải tạo đất và điều tiết nguồn nước. Những thay đổi trong phương thức canh tác đã góp phần cải thiện môi trường đồng ruộng, tạo điều kiện để rươi sinh sôi trở lại.

Theo ông Phong, sản lượng rươi hiện nay đã tăng đáng kể so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, sản lượng tăng cũng khiến giá bán có xu hướng giảm. Nếu năm 2016, rươi tại địa phương được thương lái thu mua với giá 500.000 – 550.000 đồng/kg thì đến năm 2025 giảm còn 200.000 – 220.000 đồng/kg. Năm nay, giá bán tiếp tục giảm xuống dưới 150.000 đồng/kg.

Bà Phạm Kiều Oanh, người sáng lập Công ty RuEco, cho biết rươi được người dân Tứ Kỳ gọi là “lộc trời” bởi đây là sản vật tự nhiên, chỉ xuất hiện và có thể thu hoạch vào những thời điểm nhất định trong năm.

Rươi vùng này được đánh giá có thân béo, màu hồng đẹp, khi chế biến có vị ngậy, thơm và bùi. Theo bà Oanh, lượng phù sa tích tụ cùng chất lượng đất là những yếu tố góp phần tạo môi trường thuận lợi cho rươi phát triển.

Từ kinh nghiệm triển khai liên kết sản xuất nông nghiệp sinh thái tại Tứ Kỳ và một số vùng ở Sơn La, bà Oanh cho rằng quá trình phục hồi đất sau thời gian dài sử dụng phân bón hóa học cần có thời gian và phương thức canh tác phù hợp.

Bà cũng chia sẻ kinh nghiệm sử dụng giun đất và rươi như những sinh vật có thể cung cấp thông tin về điều kiện sinh thái của đồng ruộng. Tuy nhiên, việc đánh giá chính xác chất lượng đất vẫn cần kết hợp với các phương pháp kiểm tra và phân tích môi trường chuyên môn.

Bên cạnh việc thay đổi phương thức canh tác, hệ thống thủy lợi và điều tiết nước cũng góp phần quan trọng vào hiệu quả khai thác rươi. Trước đây, người dân chủ yếu dùng vợt để thu hoạch. Khi các vùng đầm được quy hoạch, hệ thống cống và cửa cống được xây dựng, việc điều tiết nước trở nên thuận lợi hơn. Rươi theo dòng nước từ ruộng chảy ra kênh, tập trung tại cửa cống, giúp người dân dễ dàng thu hoạch.

Rươi ở cánh dồng Trại Vực rất sạch nhờ trồng lúa không sử dụng hoá chất. Ảnh: Chu Khôi.

Liên kết sản xuất mở hướng nâng cao giá trị nông nghiệp sinh thái

Thực tế tại Trại Vực cho thấy, hiệu quả của mô hình lúa – rươi không chỉ đến từ giá trị thương phẩm của con rươi mà còn từ sự kết hợp giữa phương thức canh tác, quản lý môi trường đồng ruộng và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Việc chỉ sản xuất một vụ lúa chiêm, hạn chế sử dụng hóa chất và tăng cường bổ sung chất hữu cơ giúp duy trì điều kiện sinh thái phù hợp cho rươi phát triển. Trong khi đó, hoạt động thu mua thóc tại ruộng của doanh nghiệp tạo thêm đầu ra cho sản phẩm lúa, góp phần giảm áp lực tiêu thụ đối với người nông dân.

Đáng chú ý, việc tích tụ ruộng đất và tổ chức sản xuất theo vùng cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quản lý nguồn nước, kiểm soát phương thức canh tác và tổ chức thu hoạch. Đây là những yếu tố quan trọng đối với các mô hình nông nghiệp sinh thái dựa vào nguồn lợi tự nhiên.

Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và biến động giá thị trường vẫn là những vấn đề cần được quan tâm. Khi sản lượng rươi tăng, giá bán có thể giảm, ảnh hưởng đến doanh thu của người sản xuất. Vì vậy, bên cạnh việc duy trì chất lượng môi trường đất và nước, việc tổ chức tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng.

Từ câu chuyện ở Trại Vực có thể thấy, khai thác rươi kết hợp trồng lúa sinh thái là hướng sản xuất có tiềm năng, vừa tạo nguồn thu cao hơn so với canh tác lúa đơn thuần, vừa khuyến khích người dân quan tâm đến chất lượng môi trường đồng ruộng. Khi được tổ chức bài bản, gắn với quy hoạch vùng sản xuất và liên kết tiêu thụ, mô hình này có thể góp phần nâng cao giá trị nông sản, đa dạng hóa sinh kế và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm