Giải pháp phát triển công nghiệp phân tán, tiểu thủ công nghiệp gắn với tái cơ cấu kinh tế nông thôn vùng trung du và miền núi phía Bắc

CNNT - Sở hữu nguồn nguyên liệu nông, lâm sản phong phú nhưng nhiều địa phương vùng trung du và miền núi phía Bắc vẫn gặp khó trong chế biến sâu, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Phát triển công nghiệp phân tán, tiểu thủ công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, đổi mới thiết bị và tổ chức lại sản xuất sẽ mở ra hướng nâng cao giá trị nông sản, tạo việc làm tại chỗ và thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế nông thôn.
Phát triển cơ sở chế biến tại chỗ góp phần nâng cao giá trị nông, lâm sản và thúc đẩy kinh tế nông thôn.
Phát triển cơ sở chế biến tại chỗ góp phần nâng cao giá trị nông, lâm sản và thúc đẩy kinh tế nông thôn. Nguồn: Internet

Khai thác lợi thế địa phương, mở rộng không gian phát triển công nghiệp nông thôn

Vùng trung du và miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp phân tán và tiểu thủ công nghiệp nhờ nguồn nguyên liệu nông, lâm sản đa dạng, lực lượng lao động tại chỗ và bản sắc ngành nghề truyền thống. Từ chè, quế, hồi, dược liệu, cây ăn quả đến gỗ rừng trồng, tre, nứa và các sản phẩm thủ công, mỗi địa phương đều có những điều kiện riêng để hình thành các hoạt động sơ chế, chế biến và sản xuất hàng hóa. Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức lại kinh tế nông thôn theo hướng giảm phụ thuộc vào tiêu thụ nguyên liệu thô, từng bước mở rộng các ngành nghề phi nông nghiệp và nâng cao giá trị sản phẩm ngay tại địa phương.

Đặc điểm địa hình chia cắt, dân cư phân bố không đồng đều và khoảng cách giữa vùng sản xuất với trung tâm chế biến khiến việc phát triển công nghiệp tập trung quy mô lớn không phải lúc nào cũng phù hợp. Trong bối cảnh đó, công nghiệp phân tán có thể trở thành hướng bổ trợ hiệu quả, thông qua việc bố trí các cơ sở sản xuất, sơ chế và chế biến quy mô nhỏ, vừa tại những địa bàn có lợi thế về nguyên liệu, lao động và điều kiện hạ tầng. Khi được tổ chức hợp lý, mô hình này giúp rút ngắn quãng đường vận chuyển nông sản, hạn chế hao hụt sau thu hoạch, giảm chi phí sản xuất và tạo thêm việc làm cho người dân.

Thực tế, một số sản phẩm đặc trưng của vùng vẫn chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu hoặc sơ chế đơn giản. Điều này khiến người sản xuất phụ thuộc nhiều vào thương lái, biến động giá cả và nhu cầu thị trường theo từng thời điểm. Trong khi đó, chỉ cần bổ sung các khâu làm sạch, phân loại, sấy, bảo quản, đóng gói và chế biến phù hợp, nhiều loại nông, lâm sản đã có thể nâng cao chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản và tiếp cận những phân khúc tiêu thụ có yêu cầu cao hơn.

Vì vậy, phát triển công nghiệp phân tán cần được đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn, gắn với vùng nguyên liệu, hệ thống giao thông và khả năng cung ứng điện, nước. Những cơ sở chế biến sạch, quy mô nhỏ có thể bố trí gần vùng sản xuất nếu đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, an toàn và môi trường. Đối với ngành nghề có nguy cơ phát sinh ô nhiễm, cần ưu tiên bố trí tại các cụm sản xuất phù hợp, có hệ thống thu gom và xử lý chất thải. Cách tổ chức này vừa tạo điều kiện cho hộ kinh doanh, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ phát triển, vừa hạn chế tình trạng nhà xưởng hình thành tự phát trong khu dân cư.

Bên cạnh đó, mỗi địa phương cần xác định ngành nghề ưu tiên trên cơ sở lợi thế thực tế, tránh đầu tư dàn trải hoặc phát triển những mô hình thiếu nguồn nguyên liệu và đầu ra. Nơi có vùng chè tập trung cần chú trọng chế biến, đóng gói và phát triển sản phẩm trà; địa bàn có thế mạnh về quế, hồi và dược liệu cần quan tâm sơ chế, bảo quản, chiết xuất và chế biến sâu; khu vực có nguồn gỗ rừng trồng, tre, nứa có thể phát triển các cơ sở gia công, sản xuất đồ gia dụng và hàng thủ công. Việc lựa chọn đúng ngành nghề sẽ giúp công nghiệp nông thôn phát triển gắn với điều kiện từng địa bàn, thay vì áp dụng một mô hình chung cho toàn vùng.

Đổi mới thiết bị, tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị

Một trong những hạn chế của công nghiệp nông thôn vùng trung du và miền núi phía Bắc là năng lực sản xuất của nhiều cơ sở còn nhỏ, thiết bị chưa đồng bộ và quy trình chế biến còn phụ thuộc vào lao động thủ công. Trong khi đó, việc đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại với chi phí lớn lại vượt quá khả năng tài chính của nhiều hộ sản xuất và hợp tác xã. Điều này khiến sản phẩm khó bảo đảm chất lượng đồng đều, khả năng bảo quản còn hạn chế và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các kênh phân phối hiện đại.

Do đó, đổi mới công nghệ cần được triển khai theo hướng phù hợp với quy mô và năng lực của từng chủ thể. Đối với hộ sản xuất, có thể ưu tiên thiết bị sơ chế, làm sạch, sấy và bảo quản quy mô nhỏ. Với hợp tác xã, cần khuyến khích đầu tư máy phân loại, máy đóng gói, thiết bị sấy và hệ thống bảo quản dùng chung cho các thành viên. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tập trung vào dây chuyền chế biến sâu, kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và phát triển các mặt hàng có giá trị gia tăng cao hơn.

Đầu tư máy móc không nhất thiết phải bắt đầu từ những dây chuyền lớn, mà cần lựa chọn đúng công đoạn đang gây thất thoát hoặc hạn chế chất lượng sản phẩm. Với ngành chè, thiết bị sao, vò, sấy và đóng gói phù hợp giúp nâng cao tính đồng đều của thành phẩm. Đối với quế, hồi và dược liệu, máy làm sạch, phân loại, sấy và bảo quản góp phần ổn định chất lượng nguyên liệu trước khi chế biến. Trong lĩnh vực gỗ rừng trồng, máy cưa, máy bào, thiết bị sấy và gia công có thể hỗ trợ các cơ sở chuyển từ bán nguyên liệu sang sản xuất những mặt hàng hoàn chỉnh hơn.

Một giải pháp có tính khả thi là hình thành mô hình sử dụng chung máy móc, thiết bị tại hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc cụm sản xuất. Thay vì mỗi hộ phải đầu tư một hệ thống riêng, các thành viên có thể cùng khai thác thiết bị sơ chế, sấy, phân loại, bảo quản và đóng gói theo kế hoạch. Mô hình này giúp giảm áp lực vốn, tăng hiệu suất sử dụng máy móc và tạo điều kiện để những hộ sản xuất nhỏ tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, để hoạt động hiệu quả, cần có quy chế quản lý, phân bổ thời gian sử dụng, bảo dưỡng thiết bị và cơ chế đóng góp chi phí minh bạch.

Quảng cáo

Cùng với đổi mới thiết bị là yêu cầu tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Trong đó, người dân tập trung sản xuất nguyên liệu theo quy trình thống nhất; hợp tác xã đảm nhiệm tập hợp sản phẩm, kiểm soát chất lượng, kết nối các thành viên và cung ứng dịch vụ sản xuất; doanh nghiệp tham gia đầu tư công nghệ, chế biến, xây dựng thương hiệu và tổ chức tiêu thụ. Khi trách nhiệm giữa các chủ thể được xác định rõ, nguồn nguyên liệu sẽ ổn định hơn, chất lượng sản phẩm được kiểm soát tốt hơn và cơ sở chế biến có điều kiện chủ động kế hoạch sản xuất.

Thực tiễn phát triển ngành chè tại Thái Nguyên cho thấy vai trò của việc kết hợp vùng nguyên liệu với chế biến và xây dựng thương hiệu. Theo số liệu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, diện tích chè đạt trên 22.200 ha, sản lượng chè búp tươi khoảng 272.800 tấn, giá trị sản phẩm trà ước đạt 13.800 tỷ đồng. Bên cạnh hoạt động trồng chè, hệ thống hợp tác xã, cơ sở chế biến và kinh doanh đã góp phần đưa sản phẩm trà địa phương đến nhiều thị trường, đồng thời thúc đẩy ứng dụng truy xuất nguồn gốc và nâng cao chất lượng hàng hóa. Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa trong việc phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu và thương hiệu sản phẩm địa phương.

Chế biến chè gắn với vùng nguyên liệu giúp nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm trà Thái Nguyên.
Chế biến chè gắn với vùng nguyên liệu giúp nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm trà Thái Nguyên. Nguồn: Internet

Tại Lào Cai, cây quế cũng đang tạo nền tảng cho việc hình thành chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ lợi thế bản địa. Theo thông tin được công bố về năm 2025, giá trị sản xuất ngành quế đạt khoảng 5.079 tỷ đồng, trong đó giá trị gia tăng sau chế biến đạt khoảng 1.712 tỷ đồng. Những con số này cho thấy vai trò của chế biến trong việc nâng cao giá trị ngành hàng. Tuy nhiên, để khai thác tốt hơn tiềm năng, địa phương cần tiếp tục cải thiện chất lượng nguyên liệu, kiểm soát nguồn gốc, mở rộng chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ. Việc phát triển các cơ sở sơ chế, chế biến phù hợp gần vùng trồng cũng góp phần giảm chi phí vận chuyển, tạo thêm việc làm và tăng cơ hội tham gia chuỗi giá trị cho người dân.

Sơ chế và chế biến quế tại địa phương mở rộng giá trị sản phẩm từ vùng nguyên liệu và tạo sinh kế cho người dân.
Sơ chế và chế biến quế tại địa phương mở rộng giá trị sản phẩm từ vùng nguyên liệu và tạo sinh kế cho người dân. Nguồn: Internet

Ngoài đầu tư máy móc, đào tạo lao động cần được coi là một bộ phận của quá trình đổi mới sản xuất. Người lao động cần được hướng dẫn vận hành, bảo dưỡng thiết bị, kiểm soát chất lượng, thực hiện quy trình an toàn và sử dụng công nghệ trong quản lý sản xuất. Đối với những sản phẩm có tiềm năng thương mại, việc áp dụng truy xuất nguồn gốc, xây dựng nhãn hiệu, tiêu chuẩn hóa bao bì và phát triển kênh bán hàng trực tuyến cũng cần được quan tâm. Đây là những yếu tố giúp cơ sở sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm phụ thuộc vào các kênh tiêu thụ truyền thống.

Gắn phát triển ngành nghề với sinh kế bền vững và xây dựng nông thôn mới

Phát triển công nghiệp phân tán và tiểu thủ công nghiệp không chỉ hướng đến gia tăng giá trị sản xuất mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đa dạng hóa sinh kế cho người dân nông thôn. Đối với vùng trung du và miền núi phía Bắc, nơi nhiều hộ gia đình còn phụ thuộc vào sản xuất nông, lâm nghiệp, việc mở rộng các hoạt động chế biến, gia công và dịch vụ hỗ trợ sẽ tạo thêm cơ hội việc làm ngoài lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Người dân có thể tham gia nhiều công đoạn như thu gom, sơ chế, phân loại, đóng gói, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, qua đó giảm tính thời vụ của lao động nông nghiệp.

Đặc biệt, các cơ sở sản xuất quy mô phù hợp tại địa phương có thể tạo việc làm cho phụ nữ, lao động trung niên và những người khó tiếp cận việc làm tại các khu công nghiệp lớn. Khi hoạt động sản xuất được tổ chức ổn định, người dân có thêm nguồn thu nhập, đồng thời duy trì được mối liên hệ với đất đai, nghề truyền thống và cộng đồng địa phương. Đây là yếu tố có ý nghĩa đối với mục tiêu hạn chế tình trạng thiếu việc làm, giảm áp lực di cư lao động và nâng cao chất lượng đời sống tại khu vực nông thôn.

Để đạt được mục tiêu này, chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ phù hợp về mặt bằng sản xuất, tín dụng, máy móc, thiết bị, đào tạo nghề và xúc tiến thương mại. Các chương trình hỗ trợ nên ưu tiên cơ sở có phương án sản xuất khả thi, có vùng nguyên liệu, năng lực quản lý và đầu ra tương đối ổn định. Đồng thời, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia đầu tư vào các khâu chế biến sâu, bảo quản và phân phối, qua đó hình thành mối liên kết lâu dài với hộ nông dân và hợp tác xã. Việc hỗ trợ không nên dừng ở cấp phát thiết bị mà cần đi kèm hướng dẫn vận hành, bảo dưỡng và đánh giá hiệu quả sử dụng sau đầu tư.

Một yêu cầu không thể tách rời là kiểm soát tác động môi trường trong quá trình phát triển công nghiệp nông thôn. Các cơ sở chế biến gỗ, nông sản, thực phẩm và sản xuất thủ công cần có phương án thu gom, xử lý nước thải, khí thải và chất thải rắn phù hợp với quy mô hoạt động. Những phụ phẩm như vỏ quế, mùn cưa và phế phẩm nông nghiệp có thể được nghiên cứu tận dụng làm nguyên liệu sản xuất, nhiên liệu hoặc phân bón hữu cơ khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Cùng với đó, việc sử dụng tiết kiệm năng lượng, nước và nguyên liệu cần được xem là tiêu chí trong lựa chọn công nghệ, nhằm giảm chi phí sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường sống.

Định hướng phát triển này phù hợp với Quyết định số 610/QĐ-TTg ngày 04/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch đặt ra yêu cầu khai thác lợi thế của từng địa phương, phát triển các ngành công nghiệp phù hợp với điều kiện vùng, trong đó có công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Đây là cơ sở để các địa phương cụ thể hóa định hướng phát triển công nghiệp nông thôn gắn với vùng nguyên liệu, hạ tầng sản xuất và thị trường tiêu thụ, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Có thể thấy, phát triển công nghiệp phân tán và tiểu thủ công nghiệp là một hướng đi thiết thực trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông thôn vùng trung du và miền núi phía Bắc. Giá trị của mô hình không nằm ở số lượng cơ sở sản xuất được hình thành, mà ở khả năng tổ chức sản xuất hợp lý, đưa hoạt động chế biến đến gần vùng nguyên liệu và tạo ra sản phẩm có chất lượng, thương hiệu, thị trường ổn định. Khi người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng tham gia chuỗi giá trị, thiết bị được đổi mới theo quy mô phù hợp và môi trường được bảo đảm, công nghiệp nông thôn sẽ trở thành động lực quan trọng để nâng cao thu nhập, tạo việc làm và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bền vững.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm