Khi phụ phẩm nông nghiệp trở thành đầu vào của nhà máy

Trấu, rơm rạ, bã mía và nhiều phụ phẩm sau mùa vụ đang được đưa vào các công đoạn nghiền, ép, lên men, xử lý sinh học để tạo thành nhiên liệu, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và vật liệu, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp công nghiệp nông thôn.

Hàng trăm triệu tấn phụ phẩm và bài toán nguyên liệu mới

Phụ phẩm nông nghiệp đang dần được nhìn nhận theo một cách khác: không chỉ là phần cần thu gom, xử lý sau sản xuất mà còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp. Theo số liệu được công bố, riêng năm 2020, tổng lượng phụ phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản ở Việt Nam vượt 156,8 triệu tấn. Trong đó, phụ phẩm từ trồng trọt và chế biến cây trồng khoảng 88,9 triệu tấn, chất thải chăn nuôi khoảng 61,4 triệu tấn, phụ phẩm lâm nghiệp khoảng 5,5 triệu tấn và phụ phẩm thủy sản khoảng 1 triệu tấn.

Theo dữ liệu công bố từ Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tổng khối lượng phụ phẩm phát sinh trực tiếp trên đồng ruộng sau thu hoạch ước tính đạt khoảng 59,5 triệu tấn mỗi năm. Trong đó, chiếm tỷ trọng áp đảo là rơm lúa với 42,8 triệu tấn (tương đương gần 72% tổng lượng phụ phẩm sau thu hoạch). Theo sau là các nguồn sinh khối từ thân cây ngô với 10 triệu tấn, phụ phẩm rau quả đạt 3,6 triệu tấn và thân cây sắn đạt khoảng 3,1 triệu tấn.

Những con số này cho thấy dư địa nguyên liệu không nằm ở việc tìm thêm nguồn tài nguyên mới mà còn ở khả năng tổ chức lại những dòng vật chất vốn đã tồn tại trong sản xuất nông nghiệp. Một đánh giá được công bố năm 2025 cho rằng mới khoảng 30% tổng lượng phụ phẩm được tận dụng, cho thấy phần giá trị còn bỏ ngỏ vẫn đáng kể.

Vấn đề vì thế không chỉ là “có phụ phẩm hay không”, mà là làm thế nào để biến nguồn nguyên liệu phân tán, không đồng nhất và thường có tính mùa vụ thành nguyên liệu có quy cách để đưa vào sản xuất công nghiệp.

Khi phụ phẩm nông nghiệp trở thành đầu vào của nhà máy
Khi phần bỏ đi trở thành đầu vào của nhà máy/ Ảnh minh họa.

Từ rơm, trấu đến sản phẩm có quy cách

Sự thay đổi dễ nhận thấy là phụ phẩm ngày càng được đưa vào các công đoạn xử lý cơ giới trước khi trở thành nguyên liệu cho nhà máy. Với rơm, các khâu cắt, cuộn, thu gom bằng máy giúp giảm đáng kể công sức thủ công, đồng thời tạo ra những đơn vị nguyên liệu thuận tiện hơn cho vận chuyển và bảo quản.

Tại Đồng Tháp, hoạt động thu gom rơm sau thu hoạch đã hình thành thị trường dịch vụ ngay tại đồng ruộng. Theo thông tin được công bố năm 2026, giá mua rơm tại ruộng có thời điểm vượt 60.000 đồng/công; một công có thể thu được 16–17 cuộn rơm, mỗi cuộn ít nhất 10 kg. Trong mùa thu gom, lao động thực hiện các công đoạn bốc xếp, cuộn rơm có thể đạt thu nhập khoảng 400.000–500.000 đồng/ngày.

Điểm đáng chú ý nằm ở chỗ rơm không còn dừng ở giá trị của một loại phụ phẩm phải xử lý sau thu hoạch. Khi được thu gom bằng máy, đóng cuộn, tập kết và vận chuyển, nó bắt đầu hình thành một chuỗi dịch vụ gồm cơ giới hóa, logistics, kho bãi và chế biến.

Quảng cáo

Ở khâu chế biến sâu hơn, Công ty TNHH MTV Năng lượng Xanh Đồng Tháp được giới thiệu với các sản phẩm từ gỗ và trấu như trấu đập, trấu nghiền, trấu thanh. Việc nghiền, ép và tạo hình giúp phụ phẩm có quy cách ổn định hơn, qua đó phù hợp với các nhu cầu sử dụng nhiên liệu của cơ sở sản xuất.

Một hướng khác là đưa phụ phẩm vào ngành thức ăn chăn nuôi. Công ty TNHH Kim Nghĩa được giới thiệu với các sản phẩm từ bã mía, bã mía lên men, bã dứa và một số loại phụ phẩm khác. Theo thông tin doanh nghiệp được công bố, doanh nghiệp có công suất sản xuất được giới thiệu khoảng 5.000 tấn/tháng và đã phát triển thị trường tại một số nước châu Á cùng một số thị trường khác. Sự ổn định về mặt chất lượng và quy mô công nghiệp đã giúp nguồn thức ăn chăn nuôi tuần hoàn này vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe, thâm nhập sâu vào các thị trường lớn tại châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, đồng thời tiếp tục mở rộng độ phủ sang phân khúc thị trường cao cấp tại châu Âu."

Những trường hợp này cho thấy giá trị của phụ phẩm không nằm ở trạng thái ban đầu. Cùng một loại nguyên liệu, khi được phân loại, làm sạch, giảm ẩm, nghiền, ép hoặc lên men, có thể bước sang một phân khúc sản phẩm khác với giá trị sử dụng và yêu cầu kỹ thuật cao hơn.

Khi phụ phẩm nông nghiệp trở thành đầu vào của nhà máy
Ảnh minh họa.

Sau một tấn phụ phẩm là cả chuỗi cung ứng

Để phụ phẩm thực sự trở thành đầu vào công nghiệp, bài toán lớn hơn nằm ở phía sau nhà máy. Rơm, trấu, bã mía hay phụ phẩm cây trồng thường phân tán ở nhiều hộ sản xuất, trong khi nhu cầu của nhà máy lại đòi hỏi nguồn cung tương đối ổn định về khối lượng, chất lượng và thời gian giao hàng.

Độ ẩm cũng là một yếu tố quan trọng. Nguyên liệu sau thu hoạch nếu không được làm khô, bảo quản và vận chuyển phù hợp có thể tăng chi phí xử lý, giảm chất lượng hoặc phát sinh rủi ro trong quá trình lưu kho. Với những loại phụ phẩm có khối lượng lớn nhưng giá trị trên mỗi đơn vị khối lượng không cao, chi phí thu gom và vận chuyển càng quyết định khả năng cạnh tranh.

Điều này đặt ra nhu cầu hình thành các điểm tập kết, cơ sở sơ chế và mạng lưới logistics gần vùng nguyên liệu. Khi những mắt xích này phát triển, cơ hội không chỉ thuộc về doanh nghiệp trực tiếp chế biến phụ phẩm mà còn mở ra cho các cơ sở cơ khí, doanh nghiệp cung cấp máy cuộn, máy nghiền, máy ép, thiết bị sấy, kho chứa và dịch vụ vận tải.

Hạ tầng công nghiệp cũng là một phần của hệ sinh thái này. Theo Bộ Công Thương, đến cuối năm 2024 cả nước có khoảng 1.070 cụm công nghiệp được thành lập, trong đó 725 cụm đang hoạt động, thu hút hơn 14.000 dự án đầu tư và tạo việc làm cho khoảng 690.000 lao động. Quy hoạch đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển khoảng 2.148 cụm công nghiệp. Đây là nền tảng để các hoạt động sơ chế, chế biến và sản xuất công nghiệp có thể từng bước gắn với vùng nguyên liệu và thị trường.

Từ góc nhìn công nghiệp nông thôn, câu chuyện phụ phẩm vì thế không đơn thuần là xử lý “phần bỏ đi”. Đằng sau một cuộn rơm hay một bao trấu đã qua xử lý là cả chuỗi từ thu gom, cơ giới hóa, phân loại, sơ chế, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ.

Khi chuỗi này được tổ chức tốt, phụ phẩm có thể trở thành nguồn nguyên liệu bổ sung cho nhà máy, đồng thời tạo thêm thị trường cho máy móc, dịch vụ cơ giới hóa, vận tải và các cơ sở chế biến tại khu vực nông thôn. Giá trị mới không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng, mà còn được hình thành ngay từ quá trình đưa một nguồn nguyên liệu phân tán trở thành đầu vào có quy cách cho sản xuất công nghiệp.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm