Hai nhóm xã, yêu cầu khác nhau
UBND TP Hà Nội đã ban hành Quyết định số 122/2026/QĐ-UBND ngày 28/8/2026 về Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Quyết định có hiệu lực từ ngày 7/9/2026.
Bộ tiêu chí là căn cứ để các địa phương rà soát hiện trạng, tổ chức thực hiện, đồng thời phục vụ đánh giá, thẩm định và xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trong giai đoạn 2026-2030.
Điểm đáng chú ý của Bộ tiêu chí mới là Hà Nội không áp dụng một ngưỡng yêu cầu giống nhau cho tất cả các xã. Thay vào đó, các địa bàn được phân thành 2 nhóm dựa trên điều kiện phát triển và đặc điểm từng khu vực.
Nhóm 1 gồm những xã ven đô, có tốc độ đô thị hóa nhanh và điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Nhóm 2 chủ yếu gồm những xã còn mang đặc trưng sản xuất nông nghiệp hoặc nằm xa khu vực trung tâm.
Việc phân nhóm được thể hiện ở nhiều tiêu chí, từ giao thông, thủy lợi đến thu nhập, giảm nghèo, đào tạo lao động và phát triển sản xuất.
Bộ tiêu chí gồm 10 nhóm nội dung: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Phát triển kinh tế nông thôn; Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn; Văn hóa, Giáo dục, Y tế; Giảm nghèo và An sinh xã hội; Khoa học công nghệ và chuyển đổi số; Môi trường và cảnh quan nông thôn; Xây dựng hệ thống chính trị và Hành chính công; Tiếp cận pháp luật và An ninh, Quốc phòng.
Hạ tầng gắn với đặc điểm từng địa bàn
Trong lĩnh vực giao thông, cả hai nhóm xã đều phải bảo đảm đường xã đạt chuẩn theo quy hoạch, được bảo trì và có cây xanh dọc tuyến đạt từ 50% tổng số km trở lên.
Tuy nhiên, yêu cầu đối với đường thôn, ngõ, xóm có sự khác biệt. Xã nhóm 1 phải đạt tỷ lệ cứng hóa 100%, trong khi nhóm 2 phải đạt từ 90% trở lên.
Tương tự, tiêu chí thủy lợi cũng được thiết kế theo điều kiện của từng nhóm.
Đối với nhóm 1, tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu chủ động phải đạt ít nhất 90%, đồng thời áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp với nông nghiệp đô thị.
Ở nhóm 2, tỷ lệ diện tích được tưới, tiêu chủ động phải đạt từ 80% trở lên; tỷ lệ áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm đối với cây trồng chủ lực đạt từ 30%.
Sự khác biệt này cho thấy Bộ tiêu chí mới không chỉ đặt ra yêu cầu về mức độ hoàn thiện hạ tầng mà còn tính đến đặc điểm sản xuất và quá trình đô thị hóa của từng địa bàn.
Thu nhập trở thành một tiêu chí trọng tâm
Cùng với hạ tầng, chất lượng phát triển kinh tế và khả năng tạo thu nhập cho người dân được đặt ở vị trí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn mới.
Theo Bộ tiêu chí, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người hằng năm tại các xã nhóm 1 phải đạt từ 10,5% trở lên. Đối với nhóm 2, mức yêu cầu là từ 9,5%/năm.
Các xã cũng phải thúc đẩy những phương thức sản xuất mới, trong đó chú trọng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Xã nhóm 1 phải có ít nhất 3 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc ít nhất một mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn hoạt động hiệu quả. Với nhóm 2, yêu cầu là ít nhất 2 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc một mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tương ứng.
Tỷ lệ hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tại nhóm 1 phải đạt từ 60% trở lên, trong khi nhóm 2 đạt tối thiểu 50%.
Những yêu cầu này cho thấy xây dựng nông thôn mới đang được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ hơn với chất lượng sản xuất và khả năng tạo sinh kế. Hạ tầng vẫn là nền tảng, nhưng hiệu quả kinh tế và mức sống của người dân ngày càng trở thành thước đo quan trọng.
Chú trọng giảm nghèo, nước sạch và nguồn nhân lực
Các tiêu chí liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tiếp tục được đặt ra với những ngưỡng cụ thể cho từng nhóm xã.
Tỷ lệ nghèo đa chiều tại các xã nhóm 1 không được vượt quá 1,5%, trong khi ngưỡng tương ứng của nhóm 2 là không quá 3%.
Về nước sạch, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo quy chuẩn tại nhóm 1 phải đạt từ 80%, còn nhóm 2 đạt từ 70%.
Chất lượng nguồn nhân lực cũng được đưa vào nhóm tiêu chí quan trọng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tại nhóm 1 phải đạt từ 40%, cao hơn mức tối thiểu 35% của nhóm 2.
Tỷ lệ người trong độ tuổi theo học sau trung học phổ thông được đặt ở mức từ 60% đối với nhóm 1 và từ 50% đối với nhóm 2.
Bên cạnh các chỉ tiêu về kinh tế, hạ tầng và an sinh, khoa học công nghệ và chuyển đổi số được xác định thành một nhóm nội dung riêng. Điều này cho thấy yêu cầu đối với xã nông thôn mới không còn chỉ dừng ở việc hoàn thiện những điều kiện cơ bản mà hướng tới nâng cao năng lực phát triển và khả năng thích ứng của khu vực nông thôn.
Chủ động rà soát để xây dựng lộ trình
Để triển khai Bộ tiêu chí, UBND Thành phố phân công trách nhiệm cho các sở, ban, ngành và địa phương theo từng lĩnh vực.
Các cơ quan phụ trách tiêu chí có trách nhiệm hướng dẫn triển khai, đánh giá và thẩm định mức độ hoàn thành theo chức năng được giao.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội được giao chủ trì, phối hợp đôn đốc UBND các xã triển khai thực hiện. Định kỳ 6 tháng và hằng năm, Sở tổng hợp tình hình, báo cáo UBND Thành phố.
Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vấn đề cần điều chỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm chủ trì rà soát, trình cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi Bộ tiêu chí phù hợp với thực tiễn. Sở cũng tham mưu quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và hồ sơ xét công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Ở cấp cơ sở, UBND các xã căn cứ Bộ tiêu chí và hướng dẫn của Thành phố để tự rà soát hiện trạng, xác định những tiêu chí còn thiếu hoặc chưa đạt, từ đó xây dựng chương trình và lộ trình thực hiện phù hợp.
Hướng tới nông thôn mới có chất lượng và bền vững
Việc phân các xã thành 2 nhóm với những ngưỡng yêu cầu khác nhau tạo cơ sở để việc đánh giá xây dựng nông thôn mới sát hơn với điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Các xã ven đô, có tốc độ đô thị hóa nhanh phải đáp ứng những yêu cầu cao hơn ở một số tiêu chí, trong khi những địa bàn còn mang đặc trưng sản xuất nông nghiệp được áp dụng ngưỡng phù hợp hơn với điều kiện phát triển.
Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 vì vậy không chỉ đặt trọng tâm vào việc hoàn thiện hạ tầng mà còn mở rộng sang những yếu tố quyết định chất lượng phát triển lâu dài như thu nhập, giảm nghèo, nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ, môi trường và chất lượng cuộc sống.
Đối với khu vực nông thôn Hà Nội, đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình thích ứng với đô thị hóa: vừa duy trì và phát huy lợi thế sản xuất nông nghiệp, vừa nâng cao giá trị kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu cho người dân.
