Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, ngành nuôi cá rô phi cần giải quyết những hạn chế về con giống, quy mô sản xuất, chất lượng và liên kết tiêu thụ, từng bước hình thành chuỗi giá trị ổn định và bền vững.
Từ cá bình dân đến đối tượng nuôi có giá trị kinh tế
Từng phổ biến trong các vuông tôm ở miền Tây, cá rô phi trước đây chủ yếu được khai thác tự nhiên, phục vụ bữa ăn gia đình hoặc tiêu thụ tại các chợ địa phương. Những năm gần đây, khi giá cá thương phẩm được cải thiện và nhu cầu thị trường có xu hướng tăng, loài cá này đang trở thành đối tượng nuôi được nhiều hộ dân quan tâm.
Ông Nguyễn Văn Bá, 65 tuổi, ở xã Hưng Mỹ, tỉnh Cà Mau, cho biết cá rô phi tự nhiên có thịt săn chắc, dai và vị ngọt đậm, phù hợp với nhiều cách chế biến. Tuy nhiên, cá tự nhiên thường có kích cỡ nhỏ, trong khi sản lượng tại các vuông tôm đã giảm so với trước. Để tận dụng diện tích mặt nước và tăng thu nhập, ông Bá chuyển sang mua cá rô phi Đài Loan (Trung Quốc) về thả nuôi kết hợp trong vuông tôm.
Vợ ông, bà Nguyễn Thị Mỹ Ba, cũng cho biết trước đây cá rô phi thường bị xem là cá tạp, có giá trị kinh tế thấp. Gia đình từng tận dụng nguồn cá trong vuông tôm để đánh bắt, mang ra chợ bán, góp thêm thu nhập trang trải cuộc sống và chi phí học tập cho các con. Hiện nay, giá cá được cải thiện đã giúp người nuôi có thêm động lực phát triển đối tượng thủy sản này.
Tại xã Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, ông Dương Thành Long, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Thuận Lợi, cùng các thành viên đang phát triển mô hình nuôi cá rô phi đơn tính trên những diện tích sản xuất kém hiệu quả.
Theo ông Long, nếu áp dụng đúng kỹ thuật chăm sóc, cá có thể đạt trọng lượng trên 500 g/con sau khoảng 4 tháng nuôi. Chi phí sản xuất ước tính khoảng 19 triệu đồng/tấn cá thương phẩm, trong khi giá bao tiêu đạt 30.000 đồng/kg. Đây là cơ sở để các thành viên tính toán hiệu quả kinh tế và chủ động kế hoạch sản xuất.
Từ một nhóm thành viên ban đầu, hợp tác xã hiện thu hút hơn 50 người tham gia, với tổng diện tích nuôi lên đến hàng chục hecta. Theo ông Long, việc có doanh nghiệp tham gia bao tiêu sản phẩm giúp các hộ nuôi chủ động hơn trong sản xuất, giảm bớt áp lực tìm kiếm đầu ra.
Dù vậy, vốn đầu tư vẫn là trở ngại đối với nhiều hộ dân, nhất là chi phí cải tạo ao và mua con giống. Ông Nguyễn Việt Khái, Chủ tịch Hội Nông dân xã Trần Văn Thời, cho biết địa phương đang theo dõi mô hình, phối hợp với các đơn vị liên quan hỗ trợ kỹ thuật cho thành viên hợp tác xã. Khi có đủ nguồn lực, địa phương sẽ xem xét hỗ trợ vốn để người dân mở rộng sản xuất.
Xuất khẩu tăng trưởng tích cực, Brazil trở thành thị trường chủ lực
Cơ hội phát triển cá rô phi không chỉ đến từ nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn được củng cố bởi đà tăng trưởng xuất khẩu.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đạt 104 triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, Brazil nổi lên là thị trường nhập khẩu lớn nhất đối với cá rô phi Việt Nam, với kim ngạch đạt 48 triệu USD, tăng 6.925% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Ả Rập Xê Út đạt 10 triệu USD, tăng 50%.
Tại Nhật Bản, sản phẩm cá rô phi cũng ghi nhận tín hiệu tích cực khi được đưa vào chuỗi nhà hàng phục vụ các món sushi và sashimi. Những diễn biến này cho thấy cá rô phi Việt Nam đang có thêm cơ hội tiếp cận các thị trường và phân khúc tiêu dùng mới.
Đà tăng trưởng xuất khẩu mở ra dư địa phát triển cho cả doanh nghiệp chế biến và người nuôi. Tuy nhiên, để duy trì kết quả này, doanh nghiệp cần khai thác hiệu quả năng lực chế biến, nghiên cứu nhu cầu của từng thị trường và tổ chức vùng nguyên liệu phù hợp với đơn hàng. Đồng thời, việc kiểm soát chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn nhập khẩu là điều kiện quan trọng để duy trì khả năng cạnh tranh.
Tại Cà Mau, chính quyền địa phương đang tìm kiếm cơ hội phát triển mô hình nuôi cá rô phi nhằm đa dạng hóa đối tượng thủy sản, khai thác hiệu quả những diện tích sản xuất chưa phát huy hết tiềm năng.
Trước đó, ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, dẫn đầu đoàn công tác khảo sát hoạt động nuôi, sản xuất giống, chế biến và tiêu thụ cá rô phi tại thành phố Cần Thơ. Đoàn cũng tham quan trang trại sản xuất giống cá rô phi của Công ty TNHH Khoa kỹ sinh vật Thăng Long tại xã Thạnh Thới An, thành phố Cần Thơ.
Qua khảo sát, lãnh đạo tỉnh Cà Mau đánh giá cao sự sẵn sàng hỗ trợ địa phương triển khai mô hình của doanh nghiệp, đồng thời đề nghị nghiên cứu nguồn giống phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và môi trường nuôi tại địa phương.
Với lợi thế về diện tích mặt nước và nhu cầu đa dạng hóa sản xuất, cá rô phi được kỳ vọng trở thành đối tượng nuôi bổ sung, tạo thêm sinh kế cho người dân. Tuy nhiên, việc mở rộng sản xuất cần gắn với quy trình kỹ thuật phù hợp, chất lượng con giống và phương án tiêu thụ ổn định.
Tại An Giang, triển vọng xuất khẩu cũng mang lại kỳ vọng cho người nuôi. Ông Nguyễn Văn Luận, một hộ nuôi cá tại địa phương, cho biết thông tin kim ngạch xuất khẩu cá rô phi tăng trưởng tích cực giúp người dân thêm phấn khởi. Nếu nhu cầu tiếp tục tăng, giá cá thương phẩm có thể được cải thiện, tạo động lực để các hộ đầu tư sản xuất.
Liên kết tiêu thụ giúp giảm rủi ro cho người nuôi
Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, khi có doanh nghiệp tham gia thu mua, bao tiêu và hướng dẫn kỹ thuật, người nuôi cá rô phi có điều kiện chủ động hơn trong sản xuất, đồng thời hạn chế rủi ro từ biến động giá cả.
Anh Trương Thanh Hoàng, ở xã Liêu Tú, thành phố Cần Thơ, hiện có 10 ao nuôi cá rô phi. Cá được nuôi khoảng 4,5 tháng trước khi thu hoạch, trọng lượng phổ biến đạt 500 - 600 g/con. Mỗi ao có thể đạt sản lượng 30 - 35 tấn/vụ.
Theo anh Hoàng, trước đây cá chủ yếu được bán cho thương lái, có thời điểm giá chỉ nhỉnh hơn 25.000 đồng/kg. Gần đây, nhờ có doanh nghiệp tại Cần Thơ tham gia bao tiêu, giá thu mua trong vụ vừa qua đã vượt 30.000 đồng/kg.
Anh Hoàng nhận định cá rô phi có tiềm năng xuất khẩu sang nhiều quốc gia. Nếu được đầu tư bài bản, cùng sự hỗ trợ của Nhà nước và doanh nghiệp, người nuôi sẽ có thêm cơ hội cải thiện thu nhập.
Đổi lại, các hộ phải tuân thủ quy trình sản xuất do doanh nghiệp đưa ra. Con giống có thể do người dân tự ươm hoặc được công ty cung cấp nhưng phải bảo đảm chất lượng. Người nuôi cũng cần thường xuyên kiểm soát môi trường nước, ưu tiên các biện pháp sinh học trong quản lý ao và phòng bệnh.
Theo anh Hoàng, cá rô phi có sức đề kháng tương đối tốt và thời gian nuôi ngắn, nên chi phí đầu tư có thể thấp hơn một số đối tượng thủy sản khác. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng giống, chi phí thức ăn, tỷ lệ sống, năng suất và giá bán.
Đồng Tháp, Cần Thơ mở rộng mô hình nuôi
Tại Đồng Tháp, nghề nuôi cá điêu hồng và cá rô phi bằng lồng bè tiếp tục phát triển. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, số lượng lồng bè tăng từ 5.629 chiếc, với sản lượng 47.090 tấn năm 2023, lên 6.423 chiếc và 54.709 tấn năm 2025. Trong năm 2026, địa phương ghi nhận 6.790 lồng bè, với sản lượng 43.796 tấn.
Các lồng bè phân bố dọc những tuyến sông, tập trung tại các xã Phú Hựu, Mỹ Hiệp, An Hữu và phường Thới Sơn. Điều kiện tự nhiên tạo thuận lợi cho phát triển nuôi thủy sản, nhưng biến đổi khí hậu và những bất lợi về môi trường nước vẫn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất.
Một khó khăn khác là nguồn giống cá rô phi trong nước còn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan và Na Uy. Để phát triển bền vững, Đồng Tháp định hướng khai thác lợi thế nguồn nước sông Tiền, mở rộng các mô hình nuôi phù hợp và nghiên cứu phát triển nuôi cá rô phi trong ao đất.
Hướng đi này có thể tận dụng những vùng đất nông nghiệp kém hiệu quả hoặc khu vực nuôi tôm thường xảy ra dịch bệnh, qua đó đa dạng hóa đối tượng sản xuất. Địa phương cũng định hướng nghiên cứu mô hình nuôi ghép cá rô phi với tôm nước lợ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng diện tích ao.
Song song với mở rộng sản xuất, việc phát triển vùng nuôi gắn với mã số cơ sở, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc được xem là yêu cầu cần thiết để nâng cao khả năng đáp ứng thị trường. Liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nuôi cũng cần được tăng cường nhằm ổn định sản lượng và đầu ra.
Tại thành phố Cần Thơ, diện tích nuôi cá rô phi ở vùng lợ trong giai đoạn 2021 - 2025 dao động từ 3.597 đến 4.764 ha/năm. Sản lượng thu hoạch đạt 1.980 - 3.198 tấn/năm, trong đó cá rô phi đơn tính chiếm 17 - 37%. Khoảng 15% diện tích được sử dụng để nuôi luân canh với tôm, phần còn lại áp dụng các hình thức nuôi kết hợp trong ao, mương và vườn.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, thành phố thả nuôi 2.310 ha cá rô phi và 80 lồng bè cá điêu hồng, đạt sản lượng 2.800 tấn. Năng suất nuôi thâm canh đạt 35 tấn/ha, trong khi sản lượng mỗi bè đạt khoảng 7 - 8 tấn. Các mô hình được triển khai tại Thốt Nốt, Cái Răng, Hưng Phú và một số khu vực nuôi luân canh ở vùng nước lợ.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, dù có tiềm năng, sản xuất cá rô phi vẫn chưa phát triển tương xứng do quy mô còn nhỏ lẻ và thiếu liên kết với các đơn vị thu mua. Sản phẩm còn phụ thuộc nhiều vào thị trường nội địa, khiến giá cả biến động và người dân thận trọng khi đầu tư mở rộng.
Để tháo gỡ khó khăn, UBND thành phố Cần Thơ đã đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tham gia dự án cải thiện chuỗi giá trị cá rô phi Việt Nam, thúc đẩy thương mại các sản phẩm đậu nành chất lượng cao phục vụ nuôi trồng thủy sản do Hoa Kỳ đầu tư, với thời gian triển khai 5 năm.
Đầu ra ổn định là điều kiện để phát triển dài hạn
Cá rô phi đang đứng trước cơ hội chuyển từ đối tượng nuôi chủ yếu phục vụ thị trường nội địa thành mặt hàng thủy sản có tiềm năng xuất khẩu. Tuy nhiên, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ người nuôi đều được hưởng lợi nếu sản xuất vẫn phân tán, quy mô nhỏ lẻ và thiếu hợp đồng tiêu thụ ổn định.
Để tận dụng cơ hội thị trường, các địa phương cần gắn việc mở rộng diện tích nuôi với nâng cao chất lượng con giống, chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát môi trường và truy xuất nguồn gốc. Đây là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Về phía doanh nghiệp, cần chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết với hợp tác xã và hộ nuôi, đồng thời chủ động nghiên cứu yêu cầu của từng thị trường để tổ chức sản xuất phù hợp. Khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, chuỗi cung ứng cá rô phi sẽ có điều kiện vận hành ổn định hơn.
Bên cạnh đó, việc chủ động nguồn giống chất lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, kiểm soát dịch bệnh và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cũng là những yếu tố cần được quan tâm nhằm giảm chi phí, hạn chế rủi ro trong quá trình nuôi.
Khi đầu ra được bảo đảm và hiệu quả sản xuất được cải thiện, cá rô phi có thể trở thành hướng đa dạng hóa sinh kế cho người dân miền Tây, đồng thời đóng góp thêm giá trị cho ngành thủy sản Việt Nam. Cơ hội từ thị trường xuất khẩu sẽ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi được chuyển hóa thành những vùng nuôi có chất lượng, quy mô phù hợp và liên kết tiêu thụ bền vững.
