Từ 1/7, rút ngắn thời gian cấp Giấy phép xây dựng
Theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP, thời hạn giải quyết thủ tục cấp Giấy phép xây dựng, điều chỉnh Giấy phép xây dựng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 102 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, được sửa đổi bởi điểm b khoản 36 Điều 1 Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 như sau:
- Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp cấp giấy phép xây dựng (quy định hiện nay 20 ngày).
- Trong thời gian 09 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp điều chỉnh giấy phép xây dựng (quy định hiện nay 20 ngày).
- Trong thời gian 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp cấp, điều chỉnh giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ. (quy định hiện nay 15 ngày).
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, thời gian cấp, điều chỉnh Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ giảm từ 15 ngày xuống còn 07 ngày làm việc.
UBND cấp xã được thực hiện gia hạn, cấp lại giấy phép xây dựng
Nghị định 217/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng, trong đó, quy định rõ thẩm quyền, điều kiện về cấp giấy phép xây dựng.
Theo đó, từ 01/7, UBND cấp xã, phường là cơ quan cấp giấy phép xây dựng cho công trình cấp III, cấp IV, công trình nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn, trừ các công trình trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế được giao thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng cho các công trình xây dựng trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Cũng theo nghị định 217, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng là cơ quan điều chỉnh, gia hạn, cấp lại, thu hồi và hủy giấy phép xây dựng do mình cấp.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng không thu hồi giấy phép xây dựng đã cấp không đúng quy định thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh trực tiếp quyết định thu hồi giấy phép xây dựng.
Đối với dự án có nhiều công trình, loại và cấp công trình khác nhau thì thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng được xác định theo công trình có cấp cao nhất của dự án.
Bên cạnh đó từ 01/7 cơ quan cấp giấy phép xây dựng phải công khai giấy phép trên trang thông tin điện tử tối thiểu 12 tháng kể từ ngày cấp hoặc gia hạn.
Chính thức tăng lương cơ sở, lương hưu và trợ cấp BHXH
Theo Điều 3 Nghị định 161/2026/NĐ-CP của Chính phủ, từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng.
Mức lương cơ sở này là căn cứ để tính mức lương theo bảng lương, các loại phụ cấp, hoạt động phí, sinh hoạt phí và các khoản trích, chế độ được hưởng theo quy định của pháp luật.
Đối với các cơ quan, đơn vị đang thực hiện cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù, Nghị định 161/2026/NĐ-CP cũng quy định việc bảo lưu hoặc điều chỉnh phần chênh lệch tiền lương, thu nhập tăng thêm nhằm bảo đảm quyền lợi của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình áp dụng mức lương cơ sở mới.
Ngoài ra, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng thuộc đối tượng điều chỉnh cũng được tăng mức hưởng theo Điều 2 Nghị định 162/2026/NĐ-CP. Cụ thể, các đối tượng này được điều chỉnh tăng 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026.
Ngoài mức tăng 8%, Chính phủ tiếp tục có chính sách hỗ trợ đối với người có mức hưởng thấp. Theo đó, sau khi điều chỉnh, người có mức hưởng dưới 3,8 triệu đồng/tháng sẽ được tăng thêm để bảo đảm mức hưởng tối thiểu.
Trong đó, người có mức hưởng từ 3,5 triệu đồng/tháng trở xuống được tăng thêm 300.000 đồng/tháng; trường hợp có mức hưởng trên 3,5 triệu đồng nhưng dưới 3,8 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh lên bằng 3,8 triệu đồng/tháng.
Theo quy định, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh từ ngày 01/7/2026 sẽ là căn cứ để thực hiện các lần điều chỉnh tiếp theo theo quy định của pháp luật.
Chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật trên MXH có thể bị phạt đến 50 triệu đồng
Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.
Theo đó, phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định quy định: Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm; Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung do thực hiện hành vi vi phạm.
Trên đây là một số chính sách mới chính thức có hiệu lực từ 1/7/2026, bạn đọc có thể tham khảo.

