Kinh tế tuần hoàn trong công nghiệp: Gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực tái chế

Kinh tế tuần hoàn đang mở ra hướng đi quan trọng để doanh nghiệp công nghiệp sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, những vướng mắc về định danh chất thải, hạ tầng tái chế, liên kết chuỗi và tiếp cận tài chính xanh vẫn là rào cản lớn. Tháo gỡ các điểm nghẽn này sẽ giúp biến chất thải thành nguồn tài nguyên, thúc đẩy chuyển đổi xanh và góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Doanh nghiệp ngành thép đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn, từ nguồn nguyên liệu tái chế đến yêu cầu minh bạch dữ liệu môi trường. Ảnh internet

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Tư duy quản lý từng bước chuyển từ xử lý chất thải ở cuối quy trình sản xuất sang quản lý toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ thiết kế, lựa chọn nguyên liệu, sản xuất đến sử dụng và tái chế.

Cách tiếp cận này hướng tới ngăn ngừa tác động tiêu cực đến môi trường ngay từ đầu, giảm tiêu hao tài nguyên và kéo dài vòng đời sản phẩm. Tuy nhiên, để kinh tế tuần hoàn thực sự đi vào sản xuất công nghiệp, cần giải quyết những vướng mắc đang khiến nhiều nguồn vật liệu có khả năng tái sử dụng chưa được khai thác hiệu quả.

Những điểm nghẽn trong chuyển đổi mô hình

Tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải trong sản xuất công nghiệp để sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường”, ThS. Trương Việt Trường, Chuyên viên chính Phòng Môi trường Công Thương, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường Công nghiệp, Bộ Công Thương, cho biết tỷ lệ tái chế, tái sử dụng trong toàn ngành nhìn chung vẫn chưa đạt kỳ vọng.

Theo ông Trường, doanh nghiệp đang gặp khó khăn cả về chi phí, hạ tầng và cơ chế hỗ trợ. Mặc dù đã thực hiện nghĩa vụ đóng góp kinh phí vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, cơ chế giải ngân và quy chế hoạt động của Quỹ vẫn chưa thực sự hoàn thiện, khiến nguồn lực hỗ trợ nâng cấp hạ tầng tái chế chưa được phát huy tối đa.

Bên cạnh đó, liên kết giữa đơn vị phát sinh chất thải với cơ sở thu gom, xử lý và tái chế còn lỏng lẻo. Hạ tầng logistics phục vụ thu gom, vận chuyển cũng chưa đồng bộ, làm gia tăng chi phí và hạn chế khả năng hình thành chuỗi giá trị tuần hoàn.

Một trong những rào cản đáng chú ý là việc xác định thời điểm chất thải có thể được chuyển thành sản phẩm hoặc nguyên liệu thứ cấp để lưu thông trên thị trường.

ThS. Nguyễn Thi, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cho rằng để một dòng chất thải được công nhận là hàng hóa và lưu thông thuận lợi, cần đáp ứng ba điều kiện cơ bản: có thị trường tiêu thụ rõ ràng, bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn môi trường và có quy trình pháp lý minh bạch, đơn giản.

Khi chưa có cơ chế phân định rõ ràng, nhiều vật liệu có khả năng tái chế vẫn gặp khó khăn trong giao dịch thương mại, vận chuyển và sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất.

Một điểm nghẽn kỹ thuật khác là việc thiếu mã HS đối với một số sản phẩm phụ sau tái chế. Mã HS là hệ thống mã số dùng để phân loại hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu. Việc chưa xác định được mã phù hợp có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp trong giao dịch thương mại, tiếp cận vốn và xuất khẩu.

Ngoài ra, các quy định liên quan đến việc sử dụng chất thải nguy hại làm vật liệu san lấp cũng được đặt ra trong thảo luận. Theo ý kiến chuyên gia, cần nghiên cứu các quy chuẩn an toàn kỹ thuật phù hợp để đánh giá khả năng sử dụng những nguồn vật liệu có giá trị, trên cơ sở bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường.

Doanh nghiệp thép, giấy đối mặt áp lực chuyển đổi

Thực tiễn tại ngành thép cho thấy kinh tế tuần hoàn có thể mang lại lợi ích về kinh tế và môi trường, nhưng quá trình triển khai vẫn gặp nhiều bất cập.

Ông Lê Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam - VNSTEEL, cho biết nguồn thép phế liệu trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, khiến doanh nghiệp phải nhập khẩu từ các quốc gia như Nhật Bản, Australia và Mỹ.

Trong khi đó, quy định quản lý tạp chất trong phế liệu nhập khẩu của Việt Nam, theo phản ánh từ doanh nghiệp, chưa tiệm cận với thông lệ quốc tế, làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh.

Cùng với những khó khăn về nguyên liệu, các yêu cầu môi trường trên thị trường quốc tế ngày càng đặt ra áp lực lớn đối với doanh nghiệp thép. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) và các yêu cầu về hộ chiếu sinh thái đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch dữ liệu phát thải, thông tin sản phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Điều này khiến chuyển đổi tuần hoàn không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng duy trì thị trường và đáp ứng các tiêu chuẩn thương mại.

Ở ngành giấy, tái chế đã trở thành một phần quan trọng trong hoạt động sản xuất. TS. Lương Chí Hiếu, Chánh văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, cho biết mỗi năm ngành giấy sử dụng gần 7 triệu tấn nguyên liệu tái chế, đặc biệt là giấy bao bì.

Các nhà máy hiện đại đã nâng cấp công nghệ, giúp giảm lượng nước tiêu thụ từ 10-15 m³ xuống còn 3-6 m³ cho mỗi tấn sản phẩm.

Quảng cáo

Tuy nhiên, ngành giấy vẫn gặp khó khăn liên quan đến quy định ký quỹ nhập khẩu phế liệu giấy. Theo thông tin được nêu tại tọa đàm, mức ký quỹ hiện từ 15-20% giá trị lô hàng, khiến một phần vốn của doanh nghiệp bị giữ trong thời gian dài, trong khi cơ chế sử dụng nguồn tiền này chưa thực sự hiệu quả.

Những ví dụ từ ngành thép và giấy cho thấy, dù công nghệ tái chế đã có bước tiến, hiệu quả kinh tế tuần hoàn vẫn phụ thuộc lớn vào sự đồng bộ của chính sách, thị trường nguyên liệu và cơ chế tài chính.

Các chuyên gia, đại diện cơ quan quản lý và doanh nghiệp trao đổi về giải pháp thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải công nghiệp. Ảnh Báo Công Thương

Hoàn thiện thể chế, hình thành thị trường vật liệu tái chế

Để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong công nghiệp, các chuyên gia cho rằng cần xây dựng hệ thống quản lý chất thải thống nhất, đồng thời tạo điều kiện để vật liệu tái chế được lưu thông minh bạch và thuận lợi.

ThS. Nguyễn Thi đề xuất xây dựng một “tháp ưu tiên” thống nhất trong quản lý chất thải trên toàn quốc, áp dụng cho cả chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Thứ tự ưu tiên cần bắt đầu từ từ chối phát sinh, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và cuối cùng là chôn lấp.

Theo ông, việc thống nhất thứ tự ưu tiên sẽ giúp định hướng hoạt động quản lý chất thải theo hướng tăng cường tái sử dụng, tái chế, hạn chế nguy cơ phát triển các hình thức xử lý làm giảm nguồn nguyên liệu cho công nghiệp tái chế.

Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế xác định khi nào chất thải hoặc sản phẩm phụ đủ điều kiện trở thành nguyên liệu thứ cấp, hàng hóa. Quy trình cần rõ ràng về tiêu chuẩn môi trường, chất lượng sản phẩm, trách nhiệm của các bên và điều kiện lưu thông.

Đây là cơ sở để doanh nghiệp chủ động hơn trong giao dịch, đầu tư công nghệ và xây dựng chuỗi cung ứng nguyên liệu tái chế.

Một giải pháp khác là nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Theo đề xuất tại tọa đàm, các tổ chức thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO) cần giữ vai trò trung tâm trong vận hành hệ thống, góp phần minh bạch dòng tiền, dòng vật liệu và thông tin.

Đồng thời, cần có giải pháp chuyển đổi công bằng để tích hợp lực lượng thu gom phi chính thức, gồm người thu mua phế liệu và các cơ sở nhỏ lẻ, vào hệ thống quản lý chính thức. Việc này vừa góp phần nâng cao hiệu quả thu gom, tái chế, vừa hướng tới cải thiện thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội cho lực lượng tham gia.

Đối với thị trường nguyên liệu thứ cấp, chuyên gia đề xuất nghiên cứu quy định tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế bắt buộc trong một số sản phẩm như nhựa, giấy, với mức phù hợp thực tiễn và điều kiện sản xuất. Chính sách này có thể góp phần tạo đầu ra ổn định cho vật liệu tái chế, thúc đẩy nhu cầu thị trường và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ.

Hoạt động sản xuất từ nguyên liệu tái chế, góp phần tiết kiệm tài nguyên và giảm chất thải. Ảnh internet

Khơi thông tài chính xanh, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp

Về phía cơ quan quản lý, ThS. Trương Việt Trường cho biết Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030, theo Quyết định số 1894/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã xác định phát triển công nghiệp môi trường thành ngành kinh tế chiến lược.

Để triển khai chương trình, Bộ Công Thương tập trung thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ, bổ sung các công nghệ tái chế mới vào danh mục thiết bị, sản phẩm ưu đãi tại Quyết định số 980/QĐ-TTg, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia chuỗi cộng sinh công nghiệp trong các khu công nghiệp.

Cộng sinh công nghiệp là mô hình trong đó chất thải, phụ phẩm hoặc nguồn tài nguyên dư thừa của doanh nghiệp này có thể trở thành đầu vào cho doanh nghiệp khác. Cách tiếp cận này giúp giảm lượng chất thải phải xử lý, tiết kiệm nguyên liệu và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Bên cạnh chính sách công nghệ, tiếp cận nguồn vốn cũng là yếu tố quan trọng đối với quá trình chuyển đổi. Doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ tái chế mới và các chính sách ưu đãi lãi suất vay vốn được nêu tại Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg.

Tuy nhiên, để nguồn lực tài chính xanh thực sự phát huy hiệu quả, cần bảo đảm cơ chế triển khai minh bạch, thủ tục thuận lợi và khả năng tiếp cận phù hợp với nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp.

Kinh tế tuần hoàn trong công nghiệp không chỉ là câu chuyện xử lý chất thải, mà là quá trình tổ chức lại sản xuất, nguyên liệu và chuỗi giá trị theo hướng sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Khi thể chế được hoàn thiện, vật liệu tái chế có thị trường rõ ràng, hạ tầng thu gom được kết nối và doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi hơn với nguồn vốn xanh, chất thải sẽ có thêm cơ hội trở thành nguồn lực cho tăng trưởng.

Tháo gỡ đồng bộ những điểm nghẽn này sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm áp lực môi trường và từng bước chuyển đổi sang mô hình sản xuất bền vững, đóng góp vào mục tiêu phát triển xanh và Net Zero vào năm 2050.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm