Trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, việc sớm đầu tư dự án là cấp thiết.
Tuyến đường dài khoảng 349 km, đi qua 7 tỉnh thành
Tuyến đường dài khoảng 349 km, đi qua Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ, được chia thành 22 dự án thành phần.Tuyến chính cao tốc quy mô 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100 - 120km/h; đường song hành quy mô tối thiểu 2 làn xe, tốc độ thiết kế 60 - 80km/h.

Tờ trình nêu rõ, hướng tuyến được nghiên cứu, lựa chọn bảo đảm phù hợp với quy hoạch, chiều dài ngắn nhất có thể, hạn chế khối lượng giải phóng mặt bằng. Phương án tuyến lựa chọn đã được 7/7 địa phương liên quan có ý kiến thống nhất bằng văn bản. Xây dựng các nút giao liên thông; một số đoạn cầu cạn qua địa bàn tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ; hệ thống giao thông thông minh, trung tâm quản lý, điều hành giao thông; trạm dừng nghỉ được đầu tư bảo đảm đồng bộ, hiện đại.
Sơ bộ về phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư, phạm vi thực hiện giải phóng mặt bằng trên toàn bộ quy mô mặt cắt ngang Vành đai 5. Tổng diện tích đất chiếm dụng sơ bộ khoảng 4.011 ha. Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khoảng 78.143 tỷ đồng.
Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án khoảng 288.268 tỷ đồng
Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, dự án đã nghiên cứu phương án đầu tư theo phương thức đầu tư đối tác công tư (PPP) và hình thức đầu tư công. Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy, phương án tài chính đối với phương thức đầu tư PPP chưa bảo đảm tính khả thi.
Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm các hình thức đầu tư, để góp phần giảm chi phí logistics, thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, đề xuất trước mắt đầu tư dự án theo hình thức đầu tư công, triển khai thu phí sau khi hoàn thành tương tự dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông; quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi tiếp tục nghiên cứu khả năng đầu tư theo phương thức PPP.

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày tờ trình quyết định chủ trương đầu tư Dự án vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án khoảng 288.268 tỷ đồng, bao gồm: phần tuyến chính cao tốc khoảng 215.192 tỷ đồng, thực hiện bằng ngân sách trung ương; phần đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, thực hiện bằng vốn ngân sách địa phương.
Chính phủ dự kiến bố trí cho dự án trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 59.700 tỷ đồng.
Về dự kiến tiến độ thực hiện dự án, chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026, thực hiện dự án năm 2027, cơ bản hoàn thành công trình năm 2030. Các đoạn còn lại trong giai đoạn 2026 - 2030 tiếp tục huy động các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư sớm, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.
Dự án đề xuất áp dụng 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt bao gồm: 08 chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án liên quan: thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn cho Dự án; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; chỉ định thầu; điều chỉnh các quy hoạch có liên quan; giá trị tăng thêm từ khu vực dọc tuyến đường dự án.
02 chính sách mới gồm: công tác bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất; thẩm quyền quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư.
Yêu cầu làm rõ khả năng cân đối nguồn vốn
Đại diện cơ quan thẩm tra dự án, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết cơ quan này đồng tình với chủ trương đầu tư, nhưng yêu cầu làm rõ mối quan hệ của Vành đai 5 với các công trình giao thông trọng điểm khác và hiệu quả tổng thể của mạng lưới.
Nguồn vốn, cơ cấu và tiến độ bố trí vốn cũng cần được tính toán cụ thể, nhất là khả năng cân đối ngân sách của Hà Nội, Hải Phòng và những địa phương phải đóng góp nguồn lực lớn. Chính phủ đồng thời cần đánh giá ảnh hưởng của dự án đến kế hoạch đầu tư công trung hạn và các công trình quan trọng quốc gia được triển khai cùng thời kỳ.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Về phạm vi, quy mô, hình thức đầu tư và tổ chức thực hiện, đề nghị làm rõ hơn cơ chế điều phối thống nhất, trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương; bảo đảm đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến độ, chất lượng công trình và giải ngân vốn.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục cập nhật suất vốn đầu tư, đơn giá, chi phí dự phòng và các yếu tố biến động giá nhằm bảo đảm sát thực tế, hạn chế điều chỉnh trong quá trình thực hiện.
Đồng thời, đề nghị Chính phủ bổ sung, làm rõ nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn, tiến độ bố trí vốn, khả năng cân đối và bố trí vốn của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương (nhất là các địa phương dự kiến được giao bố trí số vốn lớn như Hà Nội, Hải Phòng) theo từng giai đoạn và căn cứ chứng minh khả năng cân đối vốn, làm cơ sở đánh giá tính khả thi và xem xét, quyết định.
Chính phủ đồng thời cần đánh giá ảnh hưởng của dự án đến kế hoạch đầu tư công trung hạn và các công trình quan trọng quốc gia được triển khai cùng thời kỳ.
Ủy ban đề nghị đủ 7 địa phương có tuyến đi qua cam kết bằng văn bản về khả năng, tiến độ bố trí vốn cho đường song hành, giải phóng mặt bằng và tái định cư trước khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư.
Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nguồn vật liệu xây dựng, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát đầy đủ số liệu về đất đai, dân cư bị ảnh hưởng; chuẩn bị đầy đủ quỹ đất tái định cư; đồng thời có chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, ổn định sinh kế.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ cơ chế khai thác giá trị tăng thêm từ đất, phương pháp xác định nguồn thu, nguyên tắc phân chia giữa ngân sách trung ương và địa phương, cũng như cơ chế hoàn trả cho Dự án; đồng thời có giải pháp ngăn ngừa đầu cơ đất đai. Đề nghị bổ sung phân tích đầy đủ hiệu quả đầu tư, thời gian hoàn vốn, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, hiệu quả khai thác từng giai đoạn và nguy cơ giảm hiệu quả nếu các dự án kết nối triển khai chậm.
Diệu Trang
