Cà phê giảm mạnh, xuống dưới 95.000 đồng/kg
Thị trường cà phê trong nước tiếp tục chịu áp lực giảm giá sau chuỗi phiên đi xuống vào cuối tuần trước. Tại các tỉnh Tây Nguyên, giá thu mua ngày 17/8 phổ biến từ 94.200 - 94.900 đồng/kg, giảm khoảng 2.100 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Đắk Nông ghi nhận mức giá cao nhất khu vực, đạt 94.900 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, cà phê được thu mua ở mức 94.700 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục có mức thấp nhất, khoảng 94.200 đồng/kg.
Với mức giảm đồng loạt, mặt bằng giá cà phê Tây Nguyên đã lùi xuống dưới ngưỡng 95.000 đồng/kg. Trong tuần trước, giá cà phê tại khu vực này còn dao động khoảng 96.300 - 97.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, cà phê robusta cũng chịu sức ép đáng kể. Kết thúc tuần, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 trên sàn London ở mức 3.621 USD/tấn, giảm 4,4%, tương đương 166 USD/tấn so với cuối tuần trước. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 173 USD/tấn, tương ứng 4,6%, xuống còn 3.594 USD/tấn.
Trong khi đó, giá arabica trên sàn New York diễn biến phân hóa. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng nhẹ 0,8%, tương đương 2,6 cent/pound, lên 338,1 cent/pound. Ngược lại, hợp đồng tháng 12/2026 giảm 1,6%, xuống 314,3 cent/pound.
Theo số liệu được dẫn từ Hiệp hội các nhà xuất khẩu cà phê Brazil, trong tháng 7, xuất khẩu arabica của Brazil giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 1,82 triệu bao. Trái lại, xuất khẩu robusta tăng mạnh 84,4%, đạt 851.235 bao.
Tại Việt Nam, lượng cà phê còn lại trong dân được cho là không nhiều do phần lớn sản lượng đã được bán ra trước đó. Một số thương nhân tại Tây Nguyên cho biết giao dịch trên thị trường vật chất khá trầm lắng, người mua có tâm lý thận trọng trước xu hướng giảm của giá kỳ hạn.
Thị trường đồng thời theo dõi sát triển vọng nguồn cung vụ mới. Tại một số vùng sản xuất ở Lâm Đồng và Gia Lai xuất hiện lo ngại sản lượng vụ tới có thể giảm khoảng 20% ở một số khu vực do ảnh hưởng của khô hạn, khó khăn về nguồn nước tưới và mưa lớn làm gia tăng nguy cơ sâu bệnh.
Giá tiêu giữ ổn định, xuất khẩu có tín hiệu tích cực
Trái ngược với đà giảm của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước ngày 17/8 tiếp tục ổn định. Giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm phổ biến trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg.
Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, ghi nhận mức cao nhất 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk đạt 138.000 đồng/kg. Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá tiêu phổ biến ở mức 136.000 đồng/kg.
Sau một tuần tương đối trầm lắng, thị trường hồ tiêu nội địa chưa ghi nhận biến động đáng kể. Tuy nhiên, trên thị trường xuất khẩu, giá tiêu Việt Nam và Indonesia có xu hướng nhích lên.
Theo số liệu trong tài liệu thị trường, tiêu đen Indonesia tăng 29 USD/tấn, tương đương 0,43%, lên 6.851 USD/tấn. Tại Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l tăng 20 USD/tấn, tương ứng 0,34%, lên 5.990 USD/tấn; loại 550 g/l giữ nguyên ở mức 6.050 USD/tấn.
Tiêu đen Brazil ASTA 570 được chào ở mức 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia duy trì mức 9.300 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 40 USD/tấn, tương đương 0,45%, lên 9.380 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam giữ mức 8.400 USD/tấn, còn tiêu trắng Malaysia đạt 12.200 USD/tấn.
Đáng chú ý, hoạt động xuất khẩu tiêu trắng Muntok của tỉnh Bangka Belitung, Indonesia tiếp tục tăng trong năm 2026.
Theo Cơ quan Kiểm dịch Indonesia, ngày 15/8, một lô 8,2 tấn tiêu trắng của nông dân làng Namang, huyện Bangka Tengah được xuất khẩu sang Hà Lan qua cảng Tanjung Priok tại Jakarta, với tổng giá trị khoảng 1,21 tỷ rupiah.
Trong năm 2025, Bangka Belitung xuất khẩu khoảng 1.370 tấn tiêu trắng qua 184 lô hàng, tổng trị giá khoảng 180 tỷ rupiah, tới nhiều thị trường như Việt Nam, Singapore, Nhật Bản, Malaysia và Đài Loan.
Riêng 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu của Bangka Belitung đạt khoảng 919,5 tấn, trị giá 148,9 tỷ rupiah, tăng 25,75% về sản lượng so với mức 731,2 tấn cùng kỳ năm 2025.
Giá lúa gạo ít biến động, giao dịch khá vắng
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 17/8 nhìn chung ổn định, hoạt động mua bán diễn ra khá chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 dao động 6.300 - 6.400 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.700 - 6.800 đồng/kg; Đài Thơm 8 và OM 18 cùng dao động 6.900 - 7.000 đồng/kg. Lúa OM 34 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, IR 504 dao động 9.900 - 10.000 đồng/kg; CL 555 ở mức 10.000 - 10.100 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg và OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, giá dao động khoảng 7.450 - 8.800 đồng/kg. Tấm thơm tăng 100 đồng/kg, lên 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá cám duy trì 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá các loại gạo cơ bản ổn định. Gạo Nàng Nhen có mức niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine dao động 16.500 - 17.500 đồng/kg; Đài thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 14.500 đồng/kg. Gạo Sóc thường ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 từ 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng không có nhiều thay đổi. Nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Gạo Việt Nam giữ giá trên thị trường xuất khẩu
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 538 - 542 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 450 - 454 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 374 - 378 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 360 - 364 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 292 - 296 USD/tấn.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 5,5 triệu tấn gạo, thu về 2,64 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 6,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của gạo Việt Nam. Philippines dẫn đầu, chiếm 44,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; Trung Quốc đứng thứ hai với 19,1%, tiếp đến là Ghana với 9,6%.
Diễn biến này cho thấy thị trường nông sản ngày 17/8 đang có sự phân hóa khá rõ. Trong khi cà phê chịu áp lực điều chỉnh mạnh từ thị trường kỳ hạn, hồ tiêu và lúa gạo duy trì trạng thái tương đối ổn định. Những biến động về nguồn cung, thời tiết và nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường lớn tiếp tục là các yếu tố cần theo dõi trong thời gian tới.
