Tổ chức lại sản xuất từ nền tảng liên kết cộng đồng
Ở nhiều vùng nông thôn, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên mô hình hộ gia đình với quy mô nhỏ và phương thức sản xuất truyền thống. Mặc dù giúp duy trì nghề thủ công và tạo sinh kế cho người dân, mô hình này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như thiếu tính đồng bộ trong sản xuất, khó kiểm soát chất lượng và khó đáp ứng các đơn hàng lớn của thị trường.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính đến hết năm 2025, cả nước có trên 35.000 hợp tác xã với gần 6 triệu thành viên, trong đó nhiều hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và ngành nghề nông thôn. Sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể đã góp phần quan trọng trong việc tổ chức lại sản xuất, đặc biệt tại các làng nghề và các vùng sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
Tại Hà Nội, các hợp tác xã trong làng nghề mây tre đan Phú Vinh đã đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp các hộ sản xuất và duy trì nghề truyền thống. Thông qua hợp tác xã, nhiều hộ gia đình được hỗ trợ về thiết kế sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật và nguồn nguyên liệu. Nhờ sự liên kết này, sản phẩm mây tre đan của Phú Vinh không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường như Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ.

Kết nối thị trường, mở rộng không gian tiêu thụ sản phẩm
Một trong những khó khăn phổ biến của các cơ sở công nghiệp nông thôn là khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế. Các hộ sản xuất riêng lẻ thường thiếu nguồn lực để xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm hoặc tham gia các hệ thống phân phối hiện đại.
Hợp tác xã đóng vai trò như một cầu nối giữa người sản xuất và thị trường. Khi sản phẩm được tập hợp và tiêu thụ thông qua một tổ chức chung, quy mô cung ứng được nâng lên, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng thương hiệu tập thể cho sản phẩm địa phương.
Tại tỉnh Quảng Ninh, nhiều hợp tác xã tham gia chương trình OCOP đã trở thành đầu mối quan trọng trong việc đưa sản phẩm địa phương ra thị trường. Hợp tác xã sản xuất miến dong Bình Liêu là một trường hợp tiêu biểu khi tổ chức lại chuỗi sản xuất từ khâu trồng dong riềng đến chế biến và đóng gói sản phẩm. Nhờ sự liên kết này, miến dong Bình Liêu không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trong nước mà còn từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Cùng với đó, nhiều hợp tác xã đã chủ động tham gia các hội chợ thương mại, tuần lễ quảng bá sản phẩm địa phương và các nền tảng thương mại điện tử. Những hoạt động này giúp nâng cao khả năng nhận diện sản phẩm công nghiệp nông thôn, đồng thời mở rộng đáng kể thị trường tiêu thụ.

Gìn giữ và phát huy giá trị làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống từ lâu đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế và văn hóa của nhiều vùng nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và quá trình đô thị hóa, không ít làng nghề gặp khó khăn trong việc duy trì lực lượng lao động và tìm kiếm đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Các hợp tác xã làng nghề đã góp phần tạo ra một hướng đi mới cho việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống. Thông qua mô hình hợp tác xã, các nghệ nhân và hộ sản xuất có điều kiện liên kết với nhau, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.
Tại Ninh Bình, hợp tác xã trong làng nghề thêu ren Văn Lâm (Tam Cốc – Bích Động) đã góp phần quan trọng trong việc duy trì nghề thêu ren truyền thống của địa phương. Các hợp tác xã tại đây không chỉ tổ chức sản xuất mà còn gắn kết hoạt động làng nghề với phát triển du lịch. Du khách đến tham quan khu du lịch Tam Cốc – Bích Động có cơ hội trải nghiệm quy trình thêu ren và mua các sản phẩm thủ công, qua đó tạo thêm nguồn thu cho người dân và góp phần gìn giữ nghề truyền thống.

Thúc đẩy đổi mới công nghệ và hướng tới sản xuất bền vững
Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, nhiều cơ sở công nghiệp nông thôn đang đứng trước nhu cầu đổi mới công nghệ và cải tiến quy trình sản xuất. Tuy nhiên, với đặc thù quy mô nhỏ và nguồn lực hạn chế, việc đầu tư máy móc hiện đại hay tiếp cận các giải pháp công nghệ mới vẫn là thách thức lớn đối với nhiều hộ sản xuất riêng lẻ.
Sự phát triển của mô hình hợp tác xã đã góp phần tháo gỡ một phần những rào cản này thông qua việc liên kết nguồn lực và tận dụng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Khi tham gia hợp tác xã, các hộ sản xuất không chỉ được hỗ trợ về vốn vay, đào tạo kỹ thuật hay chuyển giao công nghệ mà còn có cơ hội tham gia các chương trình khuyến công, khuyến nông và phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị.
Nhằm khuyến khích và thúc đẩy các hình thức liên kết trong sản xuất, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành trong thời gian qua. Luật Hợp tác xã năm 2023 đã bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác. Bên cạnh đó, các chính sách thúc đẩy hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản được triển khai thông qua các quyết định của Thủ tướng Chính phủ như Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg và đặc biệt là Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Không chỉ dừng lại ở cơ chế liên kết, hệ thống chính sách còn chú trọng hỗ trợ nguồn lực cho các hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị và đổi mới công nghệ. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã mở rộng cơ chế tín dụng ưu đãi đối với các hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp xanh và nông nghiệp sạch. Song song với đó, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tạo điều kiện để hợp tác xã và các cơ sở sản xuất tham gia cụm liên kết ngành và chuỗi giá trị, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp nông thôn.
Thực tế tại tỉnh Bến Tre cho thấy, nhiều hợp tác xã chế biến sản phẩm từ dừa đã từng bước đầu tư dây chuyền sản xuất và máy móc hiện đại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhờ sự liên kết trong tổ chức sản xuất, các sản phẩm từ dừa như kẹo dừa, nước cốt dừa hay các mặt hàng thủ công mỹ nghệ đã được chuẩn hóa quy trình chế biến, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ ra nhiều quốc gia.
Cùng với việc đổi mới công nghệ, một số hợp tác xã cũng chú trọng hơn đến yếu tố môi trường, từng bước áp dụng các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng. Những chuyển biến này không chỉ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm mà còn phù hợp với xu hướng tiêu dùng xanh và phát triển bền vững đang ngày càng lan tỏa trong nền kinh tế.
Động lực cho phát triển công nghiệp nông thôn bền vững
Nhìn từ thực tiễn ở nhiều địa phương, hợp tác xã đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ sinh thái phát triển công nghiệp nông thôn. Không chỉ góp phần tổ chức lại sản xuất, hợp tác xã còn tạo ra sự gắn kết giữa người sản xuất, doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng cơ hội phát triển cho nhiều ngành nghề nông thôn.
Theo nhận định của Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung, mối quan hệ hợp tác giữa hợp tác xã và doanh nghiệp không chỉ mang lại lợi ích kinh tế trước mắt mà còn tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển lâu dài của khu vực kinh tế nông thôn. Sự liên kết này góp phần mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất và tạo thêm việc làm cho người lao động, qua đó đóng góp tích cực vào mục tiêu giảm nghèo và phát triển kinh tế – xã hội ở nhiều địa phương.
Từ góc độ chính sách, việc nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và người dân về vai trò của liên kết hợp tác xã – doanh nghiệp được xem là yếu tố quan trọng. Khi nhận thức được thay đổi, các chủ thể tham gia sản xuất sẽ chủ động hơn trong việc hợp tác, hình thành các chuỗi giá trị ổn định và bền vững.
Cùng với đó, hệ thống chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, dễ tiếp cận và phù hợp với cơ chế thị trường. Các chương trình hỗ trợ liên kết sản xuất, phát triển chuỗi giá trị hay đổi mới công nghệ nếu được triển khai hiệu quả sẽ tạo thêm động lực để hợp tác xã nâng cao năng lực quản trị và chủ động kết nối với doanh nghiệp.
Trong bối cảnh công nghiệp nông thôn đang từng bước chuyển mình theo hướng hiện đại và bền vững, hợp tác xã không chỉ là hình thức liên kết kinh tế mà còn là nền tảng quan trọng giúp tổ chức lại sản xuất, khai thác hiệu quả nguồn lực địa phương và thúc đẩy các ngành nghề nông thôn phát triển theo hướng lâu dài, ổn định và giàu bản sắc./.
Ngọc Minh