Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản có cơ sở tăng tốc trong quý IV

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Kết quả này tạo cơ sở để ngành hướng tới mục tiêu hơn 74 tỷ USD trong cả năm, song cũng cho thấy yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng giữ thị trường.

9 tháng đạt 56,3 tỷ USD

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ và tương đương khoảng 75,9% mục tiêu cả năm. Xuất siêu của toàn ngành đạt khoảng 16,9 tỷ USD.

Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản đạt khoảng 29,28 tỷ USD; lâm sản 14,41 tỷ USD; thủy sản 9,17 tỷ USD; sản phẩm chăn nuôi đạt khoảng 564,4 triệu USD. Đáng chú ý, thủy sản tăng 12,3%, trong khi sản phẩm chăn nuôi dù quy mô còn nhỏ nhưng tăng tới 24,6% so với cùng kỳ.

Rau quả tiếp tục là một trong những điểm sáng của ngành khi kim ngạch 9 tháng ước đạt khoảng 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%. Lâm sản tiếp tục giữ vai trò quan trọng về quy mô, với kim ngạch khoảng 14,41 tỷ USD; trong đó gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 13,43 tỷ USD.

Những kết quả trên đang tạo nền tảng quan trọng cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong những tháng cuối năm. Tuy nhiên, phía sau mức tăng chung là sự phân hóa khá rõ giữa các ngành hàng.

Tăng trưởng chưa đồng đều giữa các ngành hàng

Cà phê là một ví dụ đáng chú ý. Trong 9 tháng, lượng cà phê xuất khẩu tăng 15,4%, nhưng kim ngạch lại giảm 7,3% do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Gạo cũng giảm 10,9% về giá trị; cao su, sắn và sản phẩm từ sắn cũng ghi nhận mức giảm về kim ngạch.

Những diễn biến này cho thấy sản lượng tăng chưa đồng nghĩa với giá trị xuất khẩu tăng. Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng chú trọng chất lượng, nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và khả năng truy xuất, dư địa tăng trưởng của nông sản Việt Nam sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng nâng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm.

Đây cũng là lý do ngành nông nghiệp đang chuyển trọng tâm từ mở rộng thị trường đơn thuần sang nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ “mở cửa thị trường” sang “mở được, vào được và giữ được thị trường”. Theo đó, cùng với phát triển thị trường, ngành cần tiếp tục tháo gỡ rào cản, đa dạng hóa thị trường, xử lý các điểm nghẽn về tín dụng và xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông.

Quý IV còn dư địa tăng trưởng

Với kết quả 9 tháng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá ngành có cơ sở để hoàn thành và vượt mục tiêu xuất khẩu 74,2 tỷ USD trong năm 2026. Để đạt mục tiêu này, trong ba tháng cuối năm, toàn ngành cần thực hiện thêm gần 18 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.

Đây là nhiệm vụ không nhỏ, bởi mức tăng trưởng chung có thể bị tác động bởi biến động giá, đơn hàng, logistics và chính sách thương mại tại các thị trường nhập khẩu.

Trong những tháng cuối năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục giữ vững ba nhóm hàng chủ lực gồm gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản và rau quả, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn đối với những ngành hàng còn hụt mục tiêu.

Với thủy sản, trọng tâm được đặt vào các ngành hàng chủ lực như tôm, cá tra, kiểm soát chất lượng và an toàn chuỗi, xử lý vấn đề khai thác IUU và các biện pháp phòng vệ thương mại. Đối với rau quả, đặc biệt là sầu riêng, việc quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và chất lượng sản phẩm tiếp tục có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì thị trường.

Như vậy, động lực tăng trưởng trong quý IV không chỉ đến từ nhu cầu thị trường mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì chất lượng, bảo đảm nguồn cung và đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam duy trì tăng trưởng trong 9 tháng năm 2026, với các nhóm hàng chủ lực như rau quả, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu.

Chuyển từ sản lượng sang giá trị

Một trong những vấn đề được đặt ra rõ hơn sau 9 tháng là yêu cầu nâng cao giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng.

Trường hợp cà phê cho thấy khá rõ điều này. Khi lượng xuất khẩu tăng nhưng kim ngạch giảm do giá bình quân đi xuống, bài toán đặt ra không chỉ là sản xuất thêm mà còn phải nâng tỷ trọng chế biến, xây dựng thương hiệu và cải thiện khả năng kiểm soát các khâu tạo giá trị trong chuỗi.

Quảng cáo

Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, ngành cà phê vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu cà phê nguyên liệu. Ông kiến nghị xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành cà phê, bao gồm thông tin vùng trồng, chủ thể sản xuất, diện tích, sản lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn bền vững, dữ liệu phát thải carbon và thông tin phục vụ quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Đây không chỉ là câu chuyện riêng của cà phê. Khi các thị trường ngày càng yêu cầu minh bạch về nguồn gốc, tiêu chuẩn sản xuất và yếu tố môi trường, dữ liệu đang trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực cạnh tranh.

Từ vùng nguyên liệu đến nhà máy chế biến, logistics và thị trường tiêu thụ, việc hình thành chuỗi dữ liệu đồng bộ sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của đối tác.

Nghiên cứu thị trường để tổ chức sản xuất

Cùng với yêu cầu nâng giá trị, cách tiếp cận thị trường cũng đang được đặt lại.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu ngành nông nghiệp chuyển từ tư duy “sản xuất rồi tìm thị trường” sang nghiên cứu thị trường để tổ chức sản xuất. Theo định hướng này, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm kết nối sản xuất, chế biến và tiêu thụ; hợp tác xã là cầu nối với người sản xuất, trong khi quản trị ngành được tăng cường dựa trên dữ liệu số.

Cách tiếp cận này đặt thị trường ở vị trí xuyên suốt chuỗi giá trị. Thay vì sản xuất theo khả năng cung ứng rồi mới tìm đầu ra, doanh nghiệp và vùng nguyên liệu cần xuất phát từ nhu cầu, tiêu chuẩn và xu hướng tiêu dùng của từng thị trường để tổ chức sản xuất phù hợp.

Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và nâng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ.

Tháo gỡ điểm nghẽn để giữ đà tăng trưởng

Bên cạnh những động lực tích cực, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn liên quan đến tín dụng, hoàn thuế, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, thủ tục xuất khẩu, kiểm tra chuyên ngành và khả năng tiếp cận thị trường.

Đối với doanh nghiệp, đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến chi phí và khả năng thực hiện đơn hàng. Trong khi đó, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát triển bền vững tại các thị trường nhập khẩu ngày càng cao.

Vì vậy, để tận dụng tốt dư địa trong quý IV, việc duy trì tăng trưởng xuất khẩu cần đi cùng với kiểm soát chất lượng, ổn định vùng nguyên liệu, cải thiện logistics và nâng khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của từng thị trường.

Đặc biệt, mức độ tập trung vào một số thị trường lớn vẫn là vấn đề cần lưu ý. Khi một ngành hàng phụ thuộc nhiều vào một số thị trường, những thay đổi về chính sách thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc điều kiện tiếp cận có thể tác động đáng kể đến hoạt động xuất khẩu.

Do đó, bên cạnh việc giữ vững những thị trường truyền thống, đa dạng hóa thị trường và xây dựng khả năng thích ứng với từng nhóm yêu cầu sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì tăng trưởng.

Hướng tới tăng trưởng bằng giá trị

Nhìn về quý IV/2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản có cơ sở để tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và hướng tới mục tiêu 74,2 tỷ USD của cả năm. Tuy nhiên, triển vọng này phụ thuộc vào nhiều điều kiện, trong đó có diễn biến giá, đơn hàng, logistics, chính sách thị trường và khả năng tháo gỡ các điểm nghẽn trong nước.

Quan trọng hơn, kết quả 9 tháng cho thấy tăng trưởng của toàn ngành đang có sự phân hóa. Một số nhóm hàng như gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả tiếp tục tạo động lực, trong khi một số mặt hàng lại chịu sức ép về giá trị dù sản lượng tăng.

Điều đó đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với giai đoạn tiếp theo: không chỉ sản xuất nhiều hơn mà phải tạo ra giá trị cao hơn.

Chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, quản trị bằng dữ liệu, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường sẽ ngày càng trở thành những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Xa hơn, định hướng của ngành là hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lên 100 tỷ USD vào năm 2030. Để tiến tới mục tiêu này, tăng trưởng về kim ngạch cần được đặt trong mối quan hệ với hiệu quả của toàn chuỗi, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và thu nhập của người sản xuất.

Nếu tổ chức tốt chuỗi giá trị và chuyển mạnh từ tư duy sản xuất theo khả năng cung ứng sang sản xuất theo nhu cầu thị trường, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản không chỉ có thêm dư địa tăng trưởng trong quý IV mà còn có nền tảng để nâng cao chất lượng và tính bền vững trong những năm tới.


Cùng chuyên mục:

Xem thêm