Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06

Chiều 18/12, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 chủ trì Hội nghị Sơ kết 1 năm triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 5 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước, 4 năm triển khai Đề án 06.
Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 1.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chủ trì Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Hội nghị được tổ chức dưới hình thức trực tiếp kết hợp kết nối trực tuyến từ Trụ sở Chính phủ tới 34 tỉnh, thành phố.

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 2.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng dự Hội nghị tại đầu cầu Quảng Trị. Ảnh: VGP/Thu Sa

Cùng dự Hội nghị trực tiếp tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ có Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo; Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo (dự tại đầu cầu Quảng Trị); đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, cơ quan liên quan.

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 3.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan các gian Triển lãm tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 4.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu khai mạc Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết hội nghị được tổ chức với nội dung “3 trong 1”, nhằm đánh giá tình hình triển khai của năm 2025, nhìn lại giai đoạn 2021-2025 và bàn về quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho năm 2026, thời gian tới để đạt hiệu quả cao hơn năm 2025. Đề nghị hội nghị làm việc khẩn trương, thực chất, hiệu quả, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần chung là đoàn kết, hợp tác và trao đổi. Theo đó, phải củng cố, phát huy đoàn kết, thống nhất để tạo ra sức mạnh; hợp tác để tạo ra, gia tăng lợi ích của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và đặc biệt là gia tăng lợi ích cho người dân, hài hòa lợi ích giữa người dân, doanh nghiệp và nhà nước; trao đổi để hiểu nhau hơn, tăng cường niềm tin, chia sẻ với nhau nhiều hơn, đi đến nhận thức chung và có hành động chung. Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và kết nối với cơ sở dữ liệu của các bộ ngành, địa phương, cơ quan, từ đó phát triển trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 5.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trình bày Báo cáo tóm tắt tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trình bày Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và các nhiệm vụ 2026.

Báo cáo của Bộ KHCN

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 6.

Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long trình bày Báo cáo tổng quan về việc triển khai Đề án 06 tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long: Bộ Công an xin báo cáo tóm tắt những kết quả nổi bật trong 04 năm triển khai Đề án 06, đánh giá các tồn tại, điểm nghẽn chính, từ đó xác định một số nhiệm vụ trọng tâm triển khai trong thời gian tới.

Về kết quả đạt được: Đề án 06 đã khẳng định vai trò đầu tàu trong công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy và nhận thức, từ việc xem chuyển đổi số là "nhiệm vụ của ngành công nghệ thông tin" sang coi đây là "trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị", gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, người dân vừa là chủ thể, là mục tiêu, là động lực đồng thời cũng là nguồn lực của quá trình chuyển đổi số.

Đề án 06 đã xây dựng được các công cụ chiến lược, giúp chuyển đổi từ nền hành chính truyền thống, dựa trên giấy tờ và tiếp xúc trực tiếp, sang quản trị số hiện đại, dựa trên dữ liệu và kết nối thông suốt.

Một là, bỏ sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy thủ công kéo dài nhiều thập kỷ, chuyển sang quản lý dân cư bằng phương thức điện tử và dữ liệu số, từ "người dân chạy theo thủ tục" sang "dữ liệu chạy thay cho người dân".

Hai là, phát triển thành công ứng dụng định danh quốc gia VNeID là công cụ trung tâm kết nối giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp; tích hợp ngày càng nhiều giấy tờ và dịch vụ thiết yếu, là "điểm truy cập số" để người dân thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, tiếp cận các tiện ích trong y tế, giáo dục, an sinh xã hội, tài chính - ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác.

Ba là, hình thành CSDL quốc gia về dân cư là "trái tim" của chuyển đổi số, cung cấp cơ sở thực tiễn cho chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. CSDL quốc gia về dân cư đã cung cấp nguồn dữ liệu đúng, đủ, sạch sống cho các bộ, ngành, địa phương khai thác, thực hiện hơn 4.000 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có hơn 2.000 dịch vụ công trực tuyến toàn trình.

Đề án 06 đã tạo cơ sở quan trọng, từng bước hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; từng bước đưa Việt Nam vào nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử với tỷ trọng kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP vào năm 2030. Có thể khẳng định, Đề án 6 đã góp phần quan trọng vào việc phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất ở Việt Nam trong thời gian qua, là một trong những hành trang quan trọng để đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới.

Bên cạnh những thành tựu, quá trình triển khai Đề án 06 cho thấy vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần khắc phục: Mâu thuẫn lớn nhất hiện nay là mâu thuẫn giữa yêu cầu chuyển đổi số nhanh và toàn diện với với quyết tâm và năng lực tổ chức thực hiện. Một số nơi vẫn tiếp cận Đề án 06 theo tư duy là nhiệm vụ hành chính phải hoàn thành theo chỉ tiêu mà không nhận thức được nó là động lực cho sự phát triển, đổi mới phương thức quản lý. Hệ quả là chúng ta có hệ thống nhưng tỷ lệ sử dụng chưa cao, có dữ liệu nhưng chất lượng chưa đảm bảo, có nền tảng nhưng chưa kết nối thông suốt.

Về tư duy và cơ chế, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi hoàn toàn lối mòn của từ duy xin - cho, quản lý cục bộ, coi dữ liệu là nguồn lực riêng, các quy định liên quan đến chia sẻ dữ liệu, thuê dịch vụ công nghệ; thanh, quyết toán vẫn còn nhiều vướng mắc. Sự phối hợp liên ngành chưa thực chất, nguyên tắc "6 rõ" chưa được thực thi nghiêm túc. Việc huy động người dân tham gia còn thiếu các biện pháp hiệu quả, thực chất, chưa tương xứng với yêu cầu của công cuộc chuyển đổi số.

Từ thực tiễn triển khai, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm quan trọng. Thứ nhất: chuyển đổi số không thể thành công nếu thiếu quyết tâm chính trị từ người đứng đầu.

Thứ hai, dữ liệu phải được coi là tài sản chiến lược, không phải là "tài sản riêng" của từng bộ, ngành, phải được kết nối, chia sẻ theo đúng mục đích sử dụng để tạo ra giá trị.

Thứ ba, phải có những biện pháp cụ thể để người dân thực sự là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực đồng thời cũng là nguồn lực của quá trình chuyển đổi số.

Về một số nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai trong thời gian tới, Đề án 06 cần chuyển đổi mạnh mẽ từ "đầu tư hạ tầng" sang "khai thác giá trị của dữ liệu", tập trung vào 4 định hướng sau:

Thứ nhất, là hoàn thiện thể chế cho chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, ổn định và lâu dài. Thời gian qua, chúng ta đã thành công với cơ chế chỉ đạo hành chính mạnh mẽ. Giai đoạn tới, cần chuyển sang cơ chế pháp luật ổn định; hoàn thiện pháp luật, quy trình, tiêu chuẩn, trách nhiệm của từng cơ quan, đảm bảo tạo hành lang pháp lý vững chắc cho chuyển đổi số, giảm phụ thuộc vào các văn bản chỉ đạo từng thời điểm.

Thứ hai, là hoàn thiện hệ sinh thái công dân số, tạo ra thế hệ công dân số, có kiến thức, kỹ năng số đầy đủ, có quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia các hoạt động của xã hội số. Để làm được điều đó, cần cơ chế đặc biệt để huy động người dân tham gia vào chuyển đổi số từ chính dữ liệu của người dân, để hình thành CSDL toàn diện của từng công dân và cả cộng đồng. Tiếp tục phát triển, nâng cấp VNeID là trung tâm kết nối giữa người dân với Nhà nước, người dân với doanh nghiệp và người dân với người dân.

Thứ ba, là phát triển kinh tế dữ liệu. Cần xây dựng những trung tâm sáng tạo, khai thác dữ liệu, nơi các doanh nghiệp khởi nghiệp được tiếp cận dữ liệu an toàn để phát triển các giải pháp đổi mới sáng tạo. Đồng thời, phải xây dựng "sàn giao dịch dữ liệu" minh bạch, nơi dữ liệu được mua bán hợp pháp, công khai, tạo nguồn thu cho ngân sách và động lực cho doanh nghiệp.

Thứ tư, là bảo đảm an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia: Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt, dữ liệu quốc gia không chỉ là tài sản kinh tế mà còn gắn với yếu tố an ninh quốc phòng. Phải xây dựng hệ thống bảo vệ dữ liệu nhiều lớp: pháp lý, kỹ thuật, nhân lực; làm chủ các công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, chuỗi khối để không bị phụ thuộc vào nước ngoài, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cho các hệ thống thông tin của quốc gia.

Đề án 06 đã chứng minh Việt Nam không chỉ có thể theo kịp mà còn có thể dẫn dắt trong cuộc cách mạng số. Với tầm nhìn chiến lược, sự quyết tâm và đồng lòng của cả hệ thống chính trị, Đề án 06 sẽ tiếp tục góp phần đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình, bứt phá và phát triển của dân tộc.

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 7.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hồi trình bày Báo cáo tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hồi trình bày Báo cáo kết quả thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2022-2025 và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026-2030.

Báo cáo của Bộ Nội vụ

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 8.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn: Mô hình "3 nhà" của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) là sự hợp tác chiến lược giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp đã khẳng định vai trò kiến tạo dẫn dắt của Nhà nước trong hoạch định chiến lược, hoàn thiện thể chế và định hướng công nghệ trọng điểm. Nghị quyết 57 đã coi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá chiến lược và lấy nguồn nhân lực chất lượng cao làm yếu tố then chốt.

Trong mô hình này, về thể chế, Bộ GDĐT đã tham mưu xây dựng các luật như: Luật nhà giáo, Luật giáo dục, Luật giáo dục Đại học (sửa đổi) và đã đưa nhiều nội dung về mặt thể chế để có thể tạo điều kiện cho việc phát triển, thúc đẩy hợp tác đa nhà là nhà trường - doanh nghiệp và hình thành dòng chảy nhân lực hai chiều trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, Bộ GDĐT cũng tham gia xây dựng, đặc biệt là về Luật khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và một số luật khác của Bộ KHCN chủ trì. Trong quá trình này, các đại học như Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia TPHCM, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Đà Nẵng và các đại học khác cũng đã ký nhiều hợp đồng với doanh nghiệp đã được nêu trong báo cáo.

Về chương trình đề án phát triển nhân lực, nhân tài cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong thời gian qua, Bộ GDĐT đã chủ trì phối hợp với các cơ quan triển khai đồng bộ nhiều chiến lược, quy hoạch và đề án quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tiêu biểu là Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; Đề án phát triển hệ thống trung tâm đào tạo xuất sắc về tài năng công nghệ 4.0 đến năm 2030; Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2030,…Đặc biệt là về quy mô Đào tạo khối ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học) đã tiếp tục tăng mạnh.

Trong năm 2024-2025, nhóm ngành công nghệ kỹ thuật đã có tới hơn 685.800 sinh viên, chiếm với quy mô 33% toàn bộ sinh viên đại học, trong đó 21.600 học viên cao học (20,3%) và 3.500 nghiên cứu sinh (27,5%). Đặc biệt, năm 2025 có 74 ngành công nghệ then chốt, công nghệ chiến lược đã đạt điểm chuẩn từ 28/30 trở lên, cho thấy sức hút mạnh mẽ và sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của xã hội về đào tạo khoa học và kỹ thuật.

Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, cả nước hiện có 34 cơ sở đào tạo với quy mô khoảng 3.500 sinh viên và mỗi năm có khoảng 1.000 sinh viên tốt nghiệp. Bộ GDĐT đang chỉ đạo hình thành các trung tâm đào tạo tiên tiến, chuyên sâu về AI, an ninh mạng và công nghệ lõi, đồng thời xây dựng đề án phát triển một số cơ sở đào tạo trở thành các trung tâm AI và trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2025. Chương trình đào tạo đã được đổi mới theo hướng tăng cường thực hành, dự án, thực tập doanh nghiệp và tích hợp dữ liệu AI khởi nghiệp…

Đối với công nghiệp bán dẫn, năm 2025, Bộ GDĐT đã ban hành chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học và thạc sĩ, đã giao cho 19 cơ sở đào tạo tham gia triển khai chương trình 1017. Năm 2025, nhóm ngành công nghệ then chốt đã tuyển sinh được 130.000 học sinh, trong đó các ngành liên quan đến công nghiệp bán dẫn có trên 118.000 thí sinh nhập học đã tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển ngành công nghiệp chiến lược này. Với nguồn tuyển sinh đó, hy vọng trong thời gian tới, chất lượng đào tạo của các ngành công nghệ kỹ thuật được tuyển sinh có thể đảm bảo được mục tiêu đã đề ra. 

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 9.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: Tôi xin trình bày báo cáo tóm tắt về kết quả cải cách thể chế giai đoạn 2021 – 2025 và nhiệm vụ giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030.

Xây dựng và hoàn thiện thể chế là một trong ba đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, phức tạp, yêu cầu phát triển đất nước đặt ra ngày càng cao, công tác cải cách thể chế tiếp tục được Đảng, Nhà nước tiếp tục xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, giữ vai trò dẫn dắt và kiến tạo cho các lĩnh vực cải cách khác. Giai đoạn 2021 – 2025 là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tiến trình cải cách thể chế và đã đạt được nhiều kết quả đưa ra.

Thứ nhất, việc đổi mới tư duy và quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đạt được nhiều kết quả tích cực. Chính phủ đã dành nhiều thời gian cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật, kịp thời xây dựng chương trình hành động và tổ chức thực hiện quyết liệt, toàn diện Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật với nhiều nội dung đổi mới, đột phá về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, công tác cải cách thể chế, hoàn thiện pháp luật của Chính phủ ngày càng chủ động và có tầm chiến lược, đã trình Quốc hội thông qua số lượng lớn Luật, Nghị quyết, trong đó có nhiều văn bản có ý nghĩa nền tảng, tác động sâu rộng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ ba, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chi tiết và hướng dẫn thi hành, luật, pháp lệnh ngày càng kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chi tiết, thi hành luật, pháp lệnh từng bước được cải thiện, tình trạng nợ, đọng văn bản giảm so với giai đoạn trước, góp phần tạo hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật.

Thứ tư, việc kiểm soát thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều thủ tục không cần thiết được loại bỏ hoặc đơn giản hoá ngay từ khâu xây dựng văn bản, góp phần giảm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, thực hiện Thông báo Kết luận số 07-TB/CQTTBCĐ ngày 15/10/2025 của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP của Chính phủ: Quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu để tổ chức hiệu quả, thực chất công tác cải cách thủ tục hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới.

Thứ năm, Chính phủ ngày càng quan tâm, đầu tư nguồn lực cho công tác xây dựng thể chế, pháp luật, đặc biệt đã trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 197 về cơ chế, chính sách đặc biệt và đột phá cho công tác xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật.

Về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cải cách thể chế giai đoạn 2026 -2030

Về nhiệm vụ giai đoạn 2026 – 2030: cần tập trung nguồn lực để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, tạo nền tảng cho quản lý, quản trị phát triển hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực mới, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về pháp luật, khơi dậy và phát huy hiệu qủa mọi tiềm năng, thế mạnh và nguồn lực, tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Về các giải pháp trọng tâm:

Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng với công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Thực hiện đầy đủ và kịp thời kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Hai là, bám sát mục tiêu chiến lược phát triển đất nước, định hướng hoàn thiện thể chế pháp luật, được xác định tại văn kiện Đại hội 14 của Đảng. Đồng thời, kế thừa và tiếp nối các mục tiêu đã được xác định Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, để bảo đảm tính ổn định, nhất quán và liên tục trong hoạch định chính sách và hoàn thiện pháp luật, tạo không gian đổi mới mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời gian tới.

Ba là, tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật và hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng chủ động, kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Chủ động, kịp thời, nội lực hoá đầy đủ các cam kết quốc tế, bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia vừa phát huy lợi thế trong nước, tương thích với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Bốn là, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ xã hội, bảo đảm sự tham gia thực chất của nhân dân, chuyên gia, nhà khoa học, nâng cao chất lượng phối hợp trong công tác xây dựng, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý văn bản quy phạm pháp luật.

Năm là, bảo đảm pháp luật rõ ràng, minh bạch, ổn định và thuận lợi trong áp dụng, gắn với việc xây dựng cấu trúc hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.

Sáu là, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật. Đẩy mạnh kiểm tra, rà soát hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời xử lý các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp.

Bảy là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong xây dựng và thực thi pháp luật.

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 10.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường phát biểu tại đầu cầu TPHCM. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường: Thành phố Hồ Chí Minh đang chuyển mình mạnh mẽ để xây dựng nền hành chính phục vụ - một nền hành chính lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, hướng đến sự chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả và thân thiện, coi sự hài lòng của người dân là thước đo thành công trong thực thi công vụ.

Công tác cải cách hành chính của Thành phố trong thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực trên cả 6 lĩnh vực. Trong đó, Thành phố đã tập trung xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, chính quyền số để phục vụ tốt nhất cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống bộ máy chính trị vừa qua, đảm bảo vận hành một Siêu đô thị TP.HCM mới. Thành phố đúc kết 04 kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, hợp nhất hệ thống số của 3 khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cũ, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công thông suốt cho người dân.

Hạ tầng số của Thành phố Hồ Chí Minh mới được hợp nhất, duy trì liên thông kết nối đảm bảo vận hành trên cùng một hạ tầng, nền tảng, dữ liệu số thống nhất cung cấp dịch vụ công liên tục, thông suốt cho người dân. Thành phố vận hành chính thức 10 nền tảng số thiết yếu đảm bảo phục vụ tốt cho người dân và công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo các cấp.

Thứ hai, lấy dữ liệu làm trung tâm phục vụ người dân, doanh nghiệp

Thành phố đã tập trung triển khai chiến lược dữ liệu của Thành phố, làm sạch dữ liệu theo Đề án 06, kết nối kịp thời Trung tâm dữ liệu Quốc gia. Trong đó, Thành phố đã chuẩn hóa dữ liệu với hơn 14,8 triệu thông tin nhân khẩu đảm bảo "đúng, đủ, sạch, sống". Bên cạnh đó, Kho dữ liệu Thành phố đã tích hợp 30 cơ sở dữ liệu dùng chung. Từ đó, giúp Thành phố chủ động trong cắt giảm hơn 30% giấy tờ, thời gian thực hiện các thủ tục hành chính liên quan hoạt động sản xuất kinh doanh khi người dân giao dịch với chính quyền.

Để khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, Thành phố đã áp dụng chính sách "0 đồng" phí, lệ phí cho 109 TTHC khi thực hiện trực tuyến. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt gần 96%, riêng cấp xã lên tới 99,44%.

Thứ ba, việc ứng dụng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong các ngành, lĩnh vực vẫn tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả, như:

- Ngành Y tế Thành phố khẳng định vị thế "Trung tâm y tế chuyên sâu" của khu vực với 99% bệnh viện triển khai bệnh án điện tử; gần 400 nghìn hồ sơ sức khỏe người cao tuổi được đồng bộ thành công trên App công dân số Thành phố; triển khai ứng dụng AI hiệu quả trong hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh tại các bệnh viện tuyến cuối.

- Ngành giao thông tiếp tục cung cấp thông tin giao thông để cung cấp thông tin về tình hình giao thông và các tiện ích giúp cho người tham gia giao thông; triển khai thực hiện hệ thống vé điện tử cho giao thông công cộng hướng tới xây dựng một mạng lưới thanh toán toàn diện, thuận tiện cho hành khách. Song song đó, ứng dụng Cảnh báo khẩn cấp - ANTT (SOS) dựa trên nền tảng dữ liệu an ninh trật tự của ngành công an giúp hiện đại hóa việc tiếp nhận thông tin an ninh trật tự trực tiếp từ người dân đến Công an Thành phố.

Thứ tư, tập trung phát triển "Công dân số Thành phố" góp phần thúc đẩy chuyển đổi số của Thành phố với phong trào "Bình dân học vụ số". Trong đó, Ứng dụng Công dân số Thành phố được xác thực qua VNeID được tích hợp với Chương trình. Đồng thời, phát huy vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, hướng dẫn và hỗ trợ người dân sử dụng các dịch vụ công nghệ số.

Trong thời gian tới, Thành phố sẽ tiếp tục ưu tiên nguồn lực, tập trung triển khai các giải pháp cải cách hành chính theo hướng hiện đại, đồng bộ, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, gắn chặt với chuyển đổi số và đô thị thông minh. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cốt lõi cho cải cách hành chính; thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực công, khuyến khích cán bộ, công chức đề xuất sáng kiến cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ mới.

Thứ hai, tiếp tục tái kiến trúc toàn bộ hạ tầng công nghệ thông tin, sẵn sàng vận hành, khai thác các nền tảng số lớn, cơ sở dữ liệu quốc gia/chuyên ngành được triển khai thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong thời gian tới.

Thứ ba, xây dựng nền hành chính dựa trên dữ liệu: Tập trung cập nhật chiến lược dữ liệu của Thành phố, tổ chức chiến dịch làm sạch dữ liệu chuyên ngành gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm hoàn thiện các cơ sở dữ liệu dùng chung. Qua đó, kiên quyết cắt giảm các thành phần hồ sơ đã có dữ liệu thay thế phục vụ tốt hơn công tác giải quyết thủ tục hành chính, cũng như hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Thành phố dựa trên dữ liệu.

Thứ tư, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức gắn với chuyển đổi số: Tăng cường các chương trình bồi dưỡng kỹ năng số, tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực quản lý dựa trên dữ liệu cho đội ngũ cán bộ, công chức; xem đây là yếu tố then chốt bảo đảm các giải pháp chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính được triển khai bền vững và hiệu quả.

Thứ năm, tổng rà soát, chuẩn hóa dữ liệu và phổ cập toàn diện "04 trụ cột công dân số" trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đảm bảo cơ bản mỗi người dân hiện đang cư trú trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đủ điều kiện đều trang bị đủ 04 yếu tố cốt lõi: (1) Danh tính số (VNeID); (2) Phương tiện số; (3) Tài khoản số; (4) Kỹ năng số cơ bản.

Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị '3 trong 1' về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06- Ảnh 11.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Công phát biểu tại đầu cầu Quảng Ninh. Ảnh: VGP

Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Công: Năm 2025, tỉnh Quảng Ninh triển khai các nhiệm vụ trong bối cảnh chính thức vận hành mô hình chính quyền hai cấp. Đây là điều kiện rất thuận lợi để tỉnh Quảng Ninh thực hiện đồng bộ cải cách thể chế gắn với chuyển đổi số và khai thác dữ liệu dân cư. Với tinh thần đổi mới, nỗ lực bứt phá, tỉnh Quảng Ninh triển khai thực hiện đạt được một số kết quả trọng tâm như sau:

Thứ nhất, về cải cách hành chính trong giai đoạn 2021 - 2025: Trong 5 năm qua, tỉnh Quảng Ninh tập trung vào mục tiêu xây dựng nền hành chính phục vụ. Tỉnh đã hoàn thành số hóa 100% các thủ tục hành chính. Các chỉ số PAR Index, SIPAS, PAPI của tỉnh liên tục được duy trì trong nhóm dẫn đầu cả nước. Việc rà soát, đơn giản hóa các thủ tục quy trình đã giúp cắt giảm được 35% - 40% thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Trọng điểm là các thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng đã góp phần đưa Quảng Ninh trở thành điểm sáng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và giữ vững tốc độ và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Thứ hai, về thực hiện Đề án 06: Trong giai đoạn 2022 - 2025, tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành kết nối hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hiện nay, 25 dịch vụ công thiết yếu và 28 dịch vụ công đặc thù của tỉnh đã được triển khai toàn diện. Từ 1/7/2025, tỉnh đã tiếp nhận, xử lý 1 triệu thủ tục hành chính và cả năm là 2,3 triệu thủ tục hành chính. Tỷ lệ xử lý thủ tục hành chính đúng và trước hạn đạt 99,3%. Tỷ lệ thủ tục hồ sơ trực tuyến đạt hơn 90%. Tỷ lệ công bố các thủ tục toàn trình đạt 96,7% thủ tục hành chính; 98,9% thủ tục hành chính phi địa giới. Việc khai thác dữ liệu dân cư đã giúp người dân không phải nộp bản sao giấy tờ khi thực hiện các giao dịch, qua đó giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính công khai, minh bạch.

Tỉnh Quảng Ninh đã triển khai thành công 42/45 mô hình điểm về Đề án 06. Đề xuất thêm 2 mô hình so với hướng dẫn của Chính phủ. Hoàn thành và hoàn thành vượt mức 12/13 nhiệm vụ thúc đẩy về Đề án 06. Hoàn thành trước tiến độ cao điểm chiến dịch theo chỉ đạo của Trung ương.

Triển khai thực hiện Nghị quyết 57, tỉnh đã cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương thành 1 trong 46 nhiệm vụ cụ thể. Đến nay đã hoàn thành đúng tiến độ 116 nhiệm vụ có thời hạn. Quảng Ninh là địa phương đứng top 3 về chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2025 và là một trong 21 tỉnh, thành phố phủ xanh 100% các xã, phường, đặc khu.

Ưu tiên đầu tư cho hạ tầng số và thiết bị đầu cuối. Tỉnh đã dành tối thiểu 3% tương đương với 843 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư là 312 tỷ, chi thường xuyên là 351 tỷ tổng chi ngân sách cho hoạt động khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh đã kết nối thông suốt với Văn phòng Chính phủ, giúp lãnh đạo tỉnh điều hành dựa trên cơ sở dữ liệu thực tế từ Trung tâm điều hành thông minh IOC.

Bên cạnh kết quả đạt được, chúng tôi vẫn gặp một số khó khăn cụ thể như sau:

Thứ nhất, do thiếu đồng bộ về hạ tầng nền tảng, việc chia sẻ kết nối dữ liệu chuyên ngành trong tỉnh và với các bộ chuyên ngành xuống địa phương chưa đồng bộ, gây khó khăn trong việc tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính liên thông.

Thứ hai, tổ chức bộ máy biên chế việc làm, nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, năm 2026 tỉnh Quảng Ninh xác định là năm bứt phá với các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức cải cách tổ chức bộ máy và chế độ công vụ. Tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện đề án vị trí việc làm gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đặc biệt bố trí nhân sự chuyên trách có năng lực về khoa học công nghệ và chuyển đổi số tại cơ sở. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với cá thể hóa trách nhiệm cá nhân người đứng đầu trong công tác cải cách hành chính.

Thứ hai, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính trên nền tảng số. Đẩy mạnh việc tái cấu trúc theo hướng phi tiếp xúc. Lấy dữ liệu từ Đề án 06 làm gốc để đơn giản hóa thủ tục hồ sơ. Phấn đấu 100% hồ sơ công việc tại cấp tỉnh được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ mật). Giảm 50% thời gian thực hiện thủ tục hành chính so với năm 2024 (hiện nay đã giảm được 35%).

Thứ ba, triển khai các mô hình thí điểm về kinh tế số. Tập trung xây dựng mô hình cửa khẩu thông minh tại Móng Cái nhằm tự động hóa quy trình thông quan, giảm thời gian, chi phí doanh nghiệp. Triển khai mô hình trung tâm điều hành thông minh vịnh Hạ Long, Bái Tử Long. Thí điểm kinh tế đêm gắn với thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý an ninh dựa trên AI tại các khu vực trọng điểm du lịch như Hạ Long và Vân Đồn.

Thứ tư, ưu tiên bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách tương đương với 1.200 tỷ cho chuyển đổi số và phát triển khoa học công nghệ sáng tạo. Hoàn thiện hạ tầng và an toàn dữ liệu. Hoàn thành các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đất đai, y tế.

Tỉnh Quảng Ninh kiến nghị hai nội dung sau:

Thứ nhất, kiến nghị Trung ương sớm ban hành hướng dẫn về khung năng lực vị trí việc làm chuyên trách đối với chuyển đổi số và an toàn thông tin.

Thứ hai, đề nghị chỉ đạo bộ chuyên ngành làm rõ lộ trình xây dựng cơ sở dữ liệu, kiến trúc dữ liệu để địa phương chủ động thiết lập cơ sở dữ liệu trung ương, xây dựng nền tảng cơ sở dữ liệu.

Tiếp tục cập nhật...