Từ nền nông nghiệp thiếu ăn đến ngành hàng xuất khẩu lớn
Theo Tổ chức Lương - Nông Liên Hợp Quốc (FAO), kết thúc năm 2024, Việt Nam đứng thứ 6 châu Á, thứ 16 trong số các nền kinh tế nông nghiệp lớn nhất thế giới theo giá trị sản xuất và thứ 15 trong nhóm các quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.
Năm 2024, sản lượng nông nghiệp Việt Nam chiếm 1,2% trong tổng số 5,2 nghìn tỷ USD sản lượng nông nghiệp toàn cầu; kim ngạch xuất khẩu đạt 62 tỷ USD. Năm 2025, xuất khẩu đạt trên 70 tỷ USD và dự kiến năm 2026 đạt 74 - 75 tỷ USD.
Những con số này cho thấy bước chuyển lớn của nông nghiệp Việt Nam trong nhiều thập niên qua.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hơn 2 triệu người Việt Nam chết đói. Trong nhiều năm sau đó, đến năm 1986, mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập khoảng 1 triệu tấn gạo để bảo đảm nhu cầu lương thực. Đến năm 1989, Việt Nam lần đầu tiên xuất khẩu gạo.
Cùng với gạo, rau quả Việt Nam từng bước mở rộng thị trường quốc tế. Những năm gần đây, xuất khẩu rau quả liên tục tăng, từ 3,16 tỷ USD năm 2022 lên 5,6 tỷ USD năm 2023 và 7,12 tỷ USD năm 2024. Năm 2025, kim ngạch đạt 8,6 tỷ USD; riêng 8 tháng năm 2026 đạt 5,87 tỷ USD và dự kiến cả năm đạt 10 tỷ USD.
Đằng sau sự tăng trưởng đó là quá trình đổi mới trong tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, cải tiến quy trình canh tác, tạo giống mới, tăng năng suất và cơ giới hóa sản xuất.
Cùng với nỗ lực của người nông dân và doanh nghiệp, giáo dục - đào tạo, các viện nghiên cứu và đội ngũ nhà khoa học cũng góp phần quan trọng vào quá trình nâng cao trình độ sản xuất và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.
Nông nghiệp hiện đại cần một thế hệ nhân lực mới
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của thị trường đang đặt ra yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực nông nghiệp.
Quy mô sản xuất ở nhiều nơi vẫn còn nhỏ lẻ, quy trình sản xuất chưa đồng bộ. Kiến thức về kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là tổ chức chuỗi giá trị từ sản xuất đến thị trường của một bộ phận người sản xuất còn hạn chế. Trong khi đó, lực lượng lao động trẻ ở nông thôn có xu hướng giảm và số lao động được đào tạo bài bản chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế.
Theo các chuyên gia, nông nghiệp là lĩnh vực chịu tác động lớn của điều kiện tự nhiên, tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi thu nhập ở một bộ phận sản xuất còn thấp và thiếu ổn định. Cùng với quá trình đô thị hóa, ngày càng nhiều thanh niên rời quê để tìm kiếm cơ hội việc làm tại các đô thị, khu và cụm công nghiệp.
Một nguyên nhân khác đến từ hình ảnh truyền thống về nghề nông. Lao động nông nghiệp lâu nay thường gắn với công việc nặng nhọc, “chân lấm, tay bùn”, thu nhập thấp và ít cơ hội phát triển nghề nghiệp. Nhận thức này phần nào ảnh hưởng đến lựa chọn ngành học và định hướng nghề nghiệp của người trẻ.
Theo thống kê được nêu trong tài liệu, năm 2022 cả nước có hơn 521.000 sinh viên nhập học ở 25 lĩnh vực đào tạo, nhưng chỉ có khoảng 7.100 sinh viên nhập học các khối ngành nông, lâm, thủy sản và thú y, chiếm 1,37%.
Trong khi đó, tỷ lệ lao động nông nghiệp được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp, chỉ chiếm khoảng 5% đến gần 10% tổng số lao động toàn ngành.
Đây là khoảng trống đáng chú ý trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển mạnh từ phương thức sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ và liên kết theo chuỗi.
Không chỉ cần người làm nông, mà cần người hiểu nông nghiệp hiện đại
Sự thay đổi của nền sản xuất đang làm thay đổi chính yêu cầu đối với người lao động.
Nông nghiệp hiện đại không chỉ cần người biết kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi hay chăm sóc cây, con. Người lao động còn cần hiểu về kinh tế nông nghiệp, thị trường, quản trị nguồn lực, tổ chức sản xuất, thương mại điện tử và liên kết chuỗi.
Đặc biệt, quá trình chuyển đổi số đang làm xuất hiện nhu cầu ngày càng rõ đối với những nhân lực có khả năng quản trị dữ liệu, ứng dụng công nghệ, tự động hóa, công nghệ sinh học, phân tích thị trường và tổ chức hoạt động kinh doanh nông nghiệp.
Theo khảo sát được nêu trong tài liệu, sự thiếu hụt nhân lực trong các lĩnh vực như công nghệ sinh học, chuyển đổi số, tự động hóa, phân tích thị trường, thương mại điện tử và quản lý nguồn lực trong nông nghiệp còn khá lớn.
Điều này cho thấy bài toán nhân lực của nông nghiệp hiện nay không đơn thuần là thiếu người. Quan trọng hơn là thiếu người có đúng kỹ năng mà nền nông nghiệp mới đang cần.
Nếu không giải quyết được khoảng cách này, việc khai thác tiềm năng, lợi thế của nông nghiệp sẽ gặp khó khăn trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, tính minh bạch và sản xuất xanh.
Đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tế
Để hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD vào năm 2030, trong đó xuất khẩu rau quả đạt 10 - 15 tỷ USD, yêu cầu đặt ra không chỉ là sản xuất đủ lượng hàng hóa mà còn phải bảo đảm chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Điều này đòi hỏi nguồn nhân lực có khả năng quản trị dữ liệu, minh bạch hóa quá trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị và tổ chức các hoạt động kinh tế đa ngành trong nông nghiệp.
Theo mục tiêu được nêu trong tài liệu, từ nay đến năm 2030, ngành Nông nghiệp đặt mục tiêu bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn; tỷ lệ lao động nông nghiệp được đào tạo đạt hơn 70%; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên của nhóm ngành nông, lâm, thủy sản đạt 10% vào năm 2030.
Các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được đặt mục tiêu tuyển sinh bình quân hằng năm 200 nghiên cứu sinh, 2.500 học viên cao học và 20.000 sinh viên đại học.
Cùng với hệ thống đào tạo chính quy, việc nâng cao kiến thức và kỹ năng cho người đang trực tiếp sản xuất cũng có ý nghĩa quan trọng.
Trong hơn 40 năm qua, Hội Làm vườn Việt Nam đã tham gia đào tạo, tập huấn, dạy nghề cho hàng chục triệu lượt hội viên về nghề vườn, kinh tế VAC; kỹ thuật và quy trình mới trong nuôi trồng cây trồng, vật nuôi, cây con đặc sản; tổ chức sản xuất, liên kết và hợp tác phát triển kinh tế VAC gắn với bảo vệ môi trường.
Những hoạt động này cho thấy đào tạo nhân lực nông nghiệp không chỉ dành cho sinh viên hay lực lượng lao động trẻ. Một nền nông nghiệp đang thay đổi cũng đòi hỏi người đang trực tiếp sản xuất phải được cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, trong đó có khả năng vận hành công nghệ và tiếp cận phương thức sản xuất hiện đại.
Muốn giữ người trẻ, phải tạo được cơ hội nghề nghiệp
Để hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng hàng hóa, công nghệ cao và minh bạch, cùng với hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, cá nhân và nhà đầu tư tham gia liên kết, đầu tư máy móc, thiết bị, yêu cầu đặt ra là đổi mới phương thức đào tạo và tập huấn.
Người lao động nông nghiệp, đặc biệt là những người lớn tuổi, cần có những hình thức học tập dễ tiếp cận, thiết thực và gắn trực tiếp với công việc. Nội dung đào tạo không chỉ dừng ở kỹ thuật sản xuất mà cần mở rộng sang kiến thức về kinh tế, thị trường, quản trị nguồn lực và tổ chức sản xuất.
Với người trẻ, bài toán lại rộng hơn. Muốn họ lựa chọn nông nghiệp và nông thôn, cần tạo ra những công việc có thu nhập, cơ hội phát triển và môi trường làm việc phù hợp với năng lực của thế hệ mới.
Trong quy hoạch các vùng sản xuất, việc hình thành các khu, cụm công nghiệp, ngành công nghiệp phụ trợ và nhà máy chế biến nông sản có liên kết với nông dân thông qua hợp tác xã có thể tạo thêm nhiều vị trí việc làm ngay tại khu vực nông thôn.
Khi sản xuất nông nghiệp gắn với chế biến, thương mại, logistics, công nghệ số và dịch vụ, nông thôn không chỉ cần người trực tiếp sản xuất mà còn có nhu cầu về kỹ thuật viên, kỹ sư, nhân lực công nghệ, quản trị, kinh doanh, marketing, thương mại điện tử và nhiều lĩnh vực liên quan.
Đưa STEM và nông nghiệp số vào hoạt động hướng nghiệp tại các trường phổ thông cũng là một hướng giúp học sinh có cách nhìn đầy đủ hơn về nông nghiệp. Từ hình ảnh một nghề nghiệp chủ yếu dựa vào lao động thủ công, nông nghiệp có thể được nhìn nhận như một lĩnh vực kinh tế có sự tham gia ngày càng sâu của khoa học, công nghệ và tri thức.
Nâng chất nhân lực để nâng tầm nông nghiệp
Hành trình phát triển của nông nghiệp Việt Nam cho thấy một thực tế: khi phương thức sản xuất thay đổi, yêu cầu về con người cũng thay đổi theo.
Từ sản xuất để bảo đảm lương thực, nông nghiệp Việt Nam đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế. Giai đoạn tiếp theo đòi hỏi nền nông nghiệp không chỉ sản xuất nhiều hơn mà phải sản xuất hiệu quả hơn, xanh hơn, minh bạch hơn và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Muốn làm được điều đó, nguồn nhân lực phải trở thành một trong những nền tảng của quá trình chuyển đổi.
Nhà nước cần tạo cơ chế và môi trường thuận lợi; cơ sở đào tạo phải gắn chương trình với nhu cầu của thị trường; doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào đào tạo và sử dụng lao động; người học cần chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng mới; còn truyền thông có vai trò góp phần thay đổi nhận thức xã hội về nghề nghiệp trong nông nghiệp.
Khi người trẻ nhìn thấy cơ hội phát triển nghề nghiệp ngay trên quê hương, nông nghiệp và nông thôn sẽ có thêm sức hút tự nhiên.
Nâng chất nguồn nhân lực vì thế không chỉ là câu chuyện của giáo dục - đào tạo. Đó còn là một phần quan trọng trong chiến lược nâng cao năng suất, giá trị và sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
