Chất lượng bắt đầu từ trước khi xuống giống
Quản lý chất lượng trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được đặt từ khâu tổ chức vùng nguyên liệu, thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm sau khi thu hoạch. Đây cũng là hướng được cụ thể hóa trong Quyết định 3411/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026 về phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026–2030. Đề án xác định hợp tác xã là một trong những chủ thể quan trọng trong tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu, dữ liệu và chất lượng; đồng thời thúc đẩy chuẩn hóa dữ liệu, quản lý mã số vùng sản xuất, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Đáng chú ý, “Dữ liệu, truy xuất và chất lượng” được xác định thành một nhóm tiêu chí trong bộ tiêu chí lựa chọn vùng nguyên liệu. Các nội dung được xem xét gồm bản đồ số vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng hoặc vùng nuôi, nhật ký sản xuất điện tử hoặc cơ sở dữ liệu số, hệ thống truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Cách tiếp cận này cho thấy chất lượng đang được nhìn như một hệ thống quản lý xuyên suốt, thay vì chỉ là kết quả kiểm tra ở cuối chuỗi.
Với các cơ sở sản xuất và hợp tác xã, chuẩn hóa không nhất thiết phải bắt đầu bằng một khoản đầu tư lớn. Quy trình thống nhất về giống, vật tư đầu vào, thời điểm xuống giống, chăm sóc, thu hoạch; biểu mẫu ghi chép rõ ràng và các điểm kiểm tra được thực hiện đều đặn có thể tạo nền tảng ban đầu để kiểm soát chất lượng. Khi quy mô tăng lên, dữ liệu này có thể tiếp tục được số hóa, kết nối với truy xuất nguồn gốc và phục vụ quản lý vùng nguyên liệu.
![]()
Khi cả vùng nguyên liệu cùng một tiêu chuẩn
Tại Cà Mau, Hợp tác xã Nông nghiệp Tổng hợp Ba Đình (HTX Ba Đình) là một ví dụ về hướng tổ chức sản xuất gắn với vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ. Thành lập từ cuối năm 2018, HTX hiện có 291 thành viên, canh tác trên 733 ha theo mô hình lúa – tôm và một số mô hình kết hợp. HTX đã ứng dụng drone, máy sạ cụm, máy gặt đập liên hợp và công cụ số vào sản xuất, qua đó tăng khả năng quản lý trên vùng sản xuất có quy mô lớn.
Năm 2026, gạo BL9 của HTX Ba Đình đoạt giải Nhất Cuộc thi Gạo ngon Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ I. Theo thông tin được công bố, từ năm 2023, BL9 được sản xuất theo hướng hữu cơ trên diện tích 30 ha, sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc sinh học. Mô hình cho thấy việc lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sản xuất, tổ chức vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ trong quản lý có thể hỗ trợ quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ở phía Bắc, Hợp tác xã Sản xuất Kinh doanh Dịch vụ Nông nghiệp Nghĩa Bình phát triển vùng liên kết sản xuất và bao tiêu gạo nếp Bắc đạt tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích 15 ha, với hơn 50 hộ tham gia. Các hộ được hướng dẫn sản xuất theo quy trình thống nhất, HTX áp dụng nguyên tắc “3 cùng” gồm cùng giống, cùng trà và cùng phương thức canh tác, đồng thời quản lý đồng ruộng bằng số hóa, thực hiện truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
HTX cũng phát triển các vùng sản xuất tập trung đối với nhiều giống lúa khác nhau, trong đó có vùng gạo Tám thơm, gạo nếp Bắc và gạo huyết rồng hữu cơ. Việc tổ chức sản xuất theo vùng, thống nhất yêu cầu kỹ thuật và tăng cường theo dõi dữ liệu giúp HTX có thêm cơ sở để duy trì chất lượng ổn định giữa các hộ tham gia liên kết.
![]()
Hồ sơ sản xuất trở thành một phần của chất lượng
Trong chuỗi sản xuất hiện đại, chất lượng không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng mà còn nằm trong khả năng trả lời được câu hỏi sản phẩm được tạo ra như thế nào. Một bộ dữ liệu cơ bản có thể bao gồm thông tin vùng sản xuất, giống, hộ tham gia, diện tích, vật tư sử dụng, thời điểm sản xuất, thu hoạch và các bước xử lý sau thu hoạch. Khi được cập nhật đầy đủ, dữ liệu giúp HTX và doanh nghiệp dễ xác định những khâu cần điều chỉnh nếu chất lượng giữa các lô sản phẩm có sự khác biệt.
Đây cũng là lý do Quyết định 3411/QĐ-BNNMT đặt yêu cầu chuyển từ việc ứng dụng số ở từng khâu sang quản trị vùng nguyên liệu dựa trên dữ liệu. Đề án hướng tới chuẩn hóa và kết nối thông tin về chủ thể, diện tích, sản lượng, tiêu chuẩn, mã số, hợp đồng liên kết và kết quả sản xuất; đồng thời tăng cường cập nhật, chia sẻ và khai thác dữ liệu vùng nguyên liệu.
Với doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ, cách tiếp cận này có thể bắt đầu từ những việc tương đối đơn giản: xây dựng sổ tay quy trình, quy định rõ trách nhiệm từng công đoạn, thiết lập điểm kiểm tra trung gian và lưu hồ sơ theo từng vùng hoặc từng lô sản phẩm. Khi quy trình đã ổn định, việc đưa dữ liệu lên phần mềm, xây dựng mã truy xuất hay kết nối với hệ thống quản lý sẽ thuận lợi hơn.
Từ giống đến hạt gạo, mỗi khâu đều có thể trở thành một mắt xích quyết định chất lượng. Chuẩn hóa vì vậy trước hết là tạo được cách làm thống nhất, có kiểm tra và có dữ liệu. Khi những nguyên tắc đó được duy trì qua từng vụ sản xuất, chất lượng sản phẩm có thêm cơ sở để ổn định, còn vùng nguyên liệu có nền tảng tốt hơn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
