Thay đổi cách nhìn về phụ phẩm nông nghiệp
Một sự thay đổi đang diễn ra trên nhiều cánh đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long khi nông dân bắt đầu nhìn nhận rơm rạ theo một cách khác. Tại cánh đồng xã thuộc TP. Cần Thơ, những thửa ruộng vừa gặt xong không còn cảnh khói mù do đốt rơm rạ như trước. Thay vào đó, rơm được thu gom gọn gàng thành từng đống, chờ xe tải đến vận chuyển, mở ra cách xử lý phụ phẩm nông nghiệp hiệu quả hơn.
Sự thay đổi này xuất phát từ việc ứng dụng các giải pháp công nghệ xử lý rơm rạ đang được triển khai tại nhiều địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long. Với khoảng 23 triệu tấn rơm rạ phát sinh mỗi năm, việc tận dụng nguồn phụ phẩm này đang từng bước biến rơm rạ từ gánh nặng môi trường thành nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế, nhờ các nghiên cứu và hỗ trợ từ Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) thông qua dự án RiceEco.
Trồng nấm rơm cho hiệu quả kinh tế cao tại HTX Green Farm
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ, tình trạng đốt rơm rạ trước đây gây ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến hệ sinh thái nông nghiệp. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và các mô hình tại HTX Tiến Thuận (Vĩnh Thạnh) hay HTX Green Farm (Thốt Nốt), nông dân đã bắt đầu thay đổi tư duy, coi rơm rạ là nguồn “vàng xanh” và hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.
Công nghệ giúp nâng giá trị rơm rạ từ đồng ruộng
Một trong những giải pháp đáng chú ý hiện nay là ứng dụng công nghệ cơ giới hóa trong sản xuất phân hữu cơ từ rơm rạ. Công nghệ này sử dụng hệ thống máy đảo trộn hiệu suất cao, có khả năng xử lý khoảng 30–50 tấn rơm mỗi giờ, giúp nâng cao hiệu quả thu gom và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp.
Theo TS. Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), công nghệ mới kết hợp cơ giới hóa với các chế phẩm vi sinh để thúc đẩy quá trình phân hủy rơm rạ. Nhờ đó, thời gian sản xuất phân bón hữu cơ sinh học chỉ còn khoảng 30–45 ngày, rút ngắn đáng kể so với phương pháp thủ công trước đây thường mất tới 90 ngày.
Hệ thống máy đảo trộn phục vụ xử lý rơm rạ đã được nghiên cứu và thử nghiệm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trên diện tích khoảng 250 ha trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm nông nghiệp. Kết quả bước đầu cho thấy việc sản xuất phân hữu cơ từ rơm rạ có tiềm năng lớn nhờ nguồn nguyên liệu dồi dào và quy trình xử lý ngày càng được cải tiến, góp phần cải thiện độ màu mỡ của đất, giảm phát thải khí nhà kính và tạo thêm nguồn thu nhập cho nông dân.
Bên cạnh sản xuất phân hữu cơ, nhiều địa phương cũng đang phát triển mô hình trồng nấm rơm theo hướng công nghiệp. Nhờ áp dụng công nghệ mới, nông dân có thể chủ động sản xuất quanh năm với năng suất ổn định, mở ra thêm hướng khai thác hiệu quả nguồn phụ phẩm từ đồng ruộng.
Hiệu quả kinh tế từ việc tận dụng rơm rạ
Các thử nghiệm thực tế cho thấy công nghệ tận dụng rơm rạ mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Nông dân áp dụng mô hình canh tác lúa – rau với 30% phân compost từ rơm rạ và 70% phân vô cơ đã ghi nhận sản lượng tăng 24%, chi phí sản xuất giảm 40%, từ đó thu nhập tăng khoảng 40% so với phương pháp truyền thống.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều hộ nông dân đã chuyển sang mô hình tái sử dụng rơm rạ để trồng nấm. Trung bình, mỗi hecta có thể tận dụng khoảng 5,3 tấn rơm để sản xuất 615 kg nấm mỗi năm, mang lại thu nhập ròng khoảng 14 triệu đồng, đồng thời phân ủ từ bã nấm còn tạo thêm nguồn thu khoảng 15 triệu đồng/ha/năm.
Nông dân xem quy trình sản xuất phân hữu cơ từ rơm
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, việc chuyển từ đốt rơm rạ sang sản xuất phân hữu cơ và trồng nấm còn góp phần giảm đáng kể lượng khí nhà kính pừ đồng ruộng. Khi được triển khai rộng rãi, mô hình này không chỉ cải thiện chất lượng đất và môi trường không khí mà còn góp phần thực hiện các mục tiêu giảm phát thải và phát triển nông nghiệp bền vững.
Hợp tác – yếu tố thúc đẩy mô hình phát triển
Một trong những điểm đáng chú ý của các giải pháp công nghệ xử lý rơm rạ là khả năng áp dụng linh hoạt ở nhiều quy mô sản xuất khác nhau. Điều này giúp nông dân dễ dàng tiếp cận công nghệ, phù hợp với điều kiện sản xuất đa dạng tại nhiều địa phương.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, một số hợp tác xã nông nghiệp đã bước đầu triển khai mô hình tận dụng rơm rạ thông qua việc chia sẻ thiết bị, tổ chức tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho các thành viên. Nhờ đó, chi phí đầu tư ban đầu được giảm bớt, đồng thời tạo điều kiện để nông dân tiếp cận công nghệ và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thực tế cho thấy giá trị kinh tế từ rơm rạ đã tăng đáng kể khi được tận dụng hiệu quả, từ mức khoảng 25 USD/ha trước đây lên 50–70 USD/ha thông qua các mô hình trồng nấm và sản xuất phân sinh học. Các chuyên gia nhận định mô hình kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân góp phần giảm phát thải, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới nền nông nghiệp bền vững.
Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới phát triển xanh và bền vững, việc tận dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ mang ý nghĩa ngày càng quan trọng. Khi khoa học công nghệ được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, những nguồn phụ phẩm tưởng chừng bị bỏ đi đang dần trở thành nguồn tài nguyên có giá trị. Nếu các mô hình này tiếp tục được nhân rộng, rơm rạ từ đồng ruộng không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn mở ra hướng phát triển mới cho công nghiệp nông thôn theo hướng kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải./.
TS. Nguyễn Đức Long