Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – trục phát triển xuyên suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII

Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, phát triển nông nghiệp, nông thôn ghi nhận những chuyển biến mang tính nền tảng, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là trục xuyên suốt. Tiến trình này không chỉ dừng lại ở đầu tư hạ tầng, máy móc hay công nghệ, mà quan trọng hơn là đổi mới căn bản cách thức tổ chức sản xuất, gắn chặt với chế biến, tiêu thụ; phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường và phát huy lợi thế từng vùng, từng ngành hàng.

Cách tiếp cận đó đã mở rộng không gian phát triển nông nghiệp theo hướng đa ngành, đa giá trị, từng bước nâng cao vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế. Từ chức năng chủ yếu cung cấp nguyên liệu thô, nông nghiệp ngày càng chuyển mạnh sang tạo giá trị gia tăng, đóng góp ngày càng lớn vào thặng dư thương mại quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – trục phát triển xuyên suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang làm thay đổi căn bản diện mạo sản xuất nông nghiệp Việt Nam, từ ứng dụng máy móc, công nghệ đến tổ chức lại chuỗi giá trị theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Hiện đại hóa toàn bộ chuỗi giá trị

Định hướng chiến lược này được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 19-NQ/TW (ngày 16/6/2022) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, chuyên canh hàng hóa tập trung, quy mô lớn, bảo đảm an toàn thực phẩm trên nền tảng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, cơ giới hóa và tự động hóa.

Thực hiện định hướng đó, ngay từ khâu sản xuất, ngành nông nghiệp đã tập trung tổ chức lại sản xuất thông qua xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, gắn với quy hoạch ngành hàng, nhu cầu thị trường và yêu cầu xuất khẩu. Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, sau 4 năm triển khai Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022–2025, tổng diện tích vùng nguyên liệu tại các địa phương tham gia đạt gần 170.000 ha, tăng khoảng 20% so với trước khi triển khai.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – trục phát triển xuyên suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII
Các vùng nguyên liệu tập trung được hình thành gắn với quy hoạch ngành hàng và nhu cầu thị trường, tạo nền tảng cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp.

Đáng chú ý, hơn 71% diện tích vùng nguyên liệu đã có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp, cho thấy sự dịch chuyển rõ nét từ sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường. Khi vùng trồng đạt quy mô đủ lớn và được tổ chức đồng bộ, chi phí vận chuyển giảm 20–30%, năng suất cây trồng tăng 10–15%, giá trị sản xuất trên mỗi hecta tăng khoảng 20–25%. Song song với đó, hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để quá trình hiện đại hóa diễn ra xuyên suốt toàn chuỗi.

Khẳng định về hiệu quả của Đề án, Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: việc quy hoạch rõ các vùng nguyên liệu chủ lực đã tạo nền tảng quan trọng để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, hình thành các chuỗi liên kết ổn định. Trên cơ sở vùng nguyên liệu được chuẩn hóa, khâu chế biến tiếp tục được xác định là động lực then chốt để nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nông sản.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – trục phát triển xuyên suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phát triển mạnh, góp phần nâng cao giá trị gia tăng, giảm tổn thất sau thu hoạch và thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam.

Công nghiệp chế biến – động lực nâng tầm nông sản

Cùng với các địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hỗ trợ đầu tư mới, mở rộng công suất các cơ sở chế biến. Bên cạnh mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhiều tập đoàn lớn tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản, tạo bước chuyển rõ nét về năng lực chế biến và xuất khẩu.

Giai đoạn 2021–2025, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng 7–8%/năm. Đến nay, cả nước có gần 8.000 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và khoảng 22.000 cơ sở chế biến nhỏ phục vụ thị trường nội địa, với tổng công suất trên 160 triệu tấn nguyên liệu/năm (công suất thực tế đạt khoảng 120–130 triệu tấn).

Không chỉ mở rộng quy mô, cơ cấu sản phẩm cũng chuyển dịch theo hướng chế biến sâu. Tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu tăng từ khoảng 20% năm 2020 lên hơn 30% vào năm 2025; tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch giảm bình quân 1% mỗi năm, hiện còn dưới 20%. Sự chuyển biến đồng bộ này đã tạo nền tảng vững chắc cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng trưởng ấn tượng.

Theo Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và là mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, nông sản đạt 37,25 tỷ USD; sản phẩm chăn nuôi 628 triệu USD; thủy sản 11,32 tỷ USD; lâm sản 18,5 tỷ USD. Cán cân thương mại tiếp tục duy trì xuất siêu gần 21 tỷ USD, phản ánh rõ nét vị thế ngày càng được nâng cao của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – trục phát triển xuyên suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII
Nông nghiệp Việt Nam ngày càng gắn chặt với thị trường toàn cầu, đóng góp lớn vào thặng dư thương mại và nâng cao vị thế của ngành trong nền kinh tế quốc dân.

Hình thành đội ngũ “nông dân số” – chiều sâu của hiện đại hóa

Song hành với hiện đại hóa chuỗi giá trị là sự chuyển biến về tư duy và vai trò của nông dân. Đây được xem là biểu hiện rõ nét cho chiều sâu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW khi xác định nông dân là chủ thể, trung tâm của quá trình phát triển.

Theo Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tối đa đất đai và thâm canh đã tiệm cận giới hạn. Muốn tạo đột phá, cần tri thức hóa nông dân, xây dựng lực lượng nông dân trở thành chủ thể ứng dụng khoa học – công nghệ, đóng vai trò nòng cốt trong nền nông nghiệp hiện đại.

Thực tế sản xuất cho thấy, hình ảnh “nông dân số” đang ngày càng rõ nét. Cầm trên tay chiếc điện thoại thông minh, anh Võ Thanh Hải, nông dân xã Mỹ Quí (Đồng Tháp), có thể tra cứu lịch thời vụ, giá vật tư đầu vào, giá lúa tại ruộng, thậm chí theo dõi diễn biến giá gạo xuất khẩu theo ngày. “Chúng tôi được tập huấn sử dụng các ứng dụng công nghệ để chủ động hơn trong quyết định sản xuất và tiêu thụ”, anh Hải chia sẻ.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – trục phát triển xuyên suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII
Hình ảnh “nông dân số” ngày càng rõ nét khi người nông dân chủ động ứng dụng công nghệ, dữ liệu thị trường và nền tảng số trong sản xuất, tiêu thụ nông sản.

Tương tự, anh Nguyễn Ngọc Huấn (xã Thạnh An, TP. Cần Thơ) không chỉ làm chủ các loại máy móc hiện đại như máy cấy, máy gặt, máy phân loại hạt giống mà còn nắm vững quy trình sản xuất lúa giống, trực tiếp tham gia sản xuất thành công lúa giống siêu nguyên chủng, được Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long ký hợp đồng thu mua hằng năm.

Cùng với đó, hạ tầng internet nông thôn phát triển nhanh đã và đang trở thành “hạ tầng mềm” của sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế số, thương mại điện tử nông thôn, giúp nông dân mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm./.

Trần Trịnh