Khai mở dư địa từ nuôi trồng trên hồ chứa
Theo ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ NN&MT, những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh phía Bắc (từ Thừa Thiên Huế trở ra) duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Năm 2025, diện tích nuôi đạt khoảng 309 nghìn ha, chiếm 23% cả nước, sản lượng đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tương đương 21% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn quốc.
Dù tỷ trọng xuất khẩu chưa lớn, khu vực này vẫn đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh thực phẩm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và tạo sinh kế cho hàng triệu lao động. Các đối tượng nuôi khá đa dạng, từ tôm nước lợ, cá nước ngọt như rô phi, cá truyền thống, đến các loài đặc sản, cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi) và các đối tượng nuôi biển như cá song, cá vược, cá chim vây vàng, nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa vẫn gặp nhiều khó khăn. Sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu do các hộ cá thể thực hiện, thiếu sự liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị. Điều này khiến năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng.
Nuôi biển dù đã có bước khởi đầu nhưng quy mô còn hạn chế, công nghệ chưa đồng bộ. Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, từ giao thông, cấp thoát nước đến hệ thống giống, thức ăn và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn yếu. Chuỗi cung ứng thiếu liên kết khiến chi phí sản xuất cao, giảm sức cạnh tranh.
Bên cạnh đó, công tác quản lý còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu cơ sở dữ liệu về phân vùng nuôi và đánh giá sức tải môi trường. Sự chồng chéo trong quản lý giữa các ngành, lĩnh vực cũng đang là rào cản lớn đối với việc thu hút đầu tư và tổ chức sản xuất quy mô lớn.
Trong khi đó, một trong những tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả lại nằm ở hệ thống hồ chứa. Việt Nam hiện có khoảng 6.750 hồ thủy lợi với tổng dung tích 14,5 tỷ m³ cùng hơn 700 hồ thủy điện, nâng tổng dung tích toàn hệ thống lên trên 50 tỷ m³.
Các hồ chứa phân bố rộng khắp, đặc biệt tại miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, không chỉ phục vụ phát điện, cấp nước mà còn là nguồn tài nguyên lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái và dịch vụ đi kèm. Tuy nhiên, việc khai thác hiện vẫn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch và kiểm soát.
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng này, ngày 2/3/2026, Bộ NN&MT đã ban hành Quyết định số 707/QĐ-BNNMT phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030.
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260.000 tấn/năm, giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng. Trong đó, nuôi lồng bè chiếm hơn 190.000 tấn, nuôi thả trực tiếp hơn 70.000 tấn. Đồng thời, tạo việc làm cho hơn 80.000 lao động, với trên 30% là đồng bào dân tộc thiểu số.
Đáng chú ý, hơn 50% cơ sở nuôi sẽ tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết; 100% cơ sở cập nhật dữ liệu lên hệ thống quản lý quốc gia. Một phần cơ sở nuôi lồng bè sẽ áp dụng tiêu chuẩn VietGAP hoặc tương đương, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường.

Định hình chuỗi giá trị xanh, bền vững
Đề án xác định rõ định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng hiệu quả, bền vững, hài hòa với các mục tiêu sử dụng nước khác và bảo vệ hệ sinh thái. Trong đó, trọng tâm là xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến và tiêu thụ.
Việc phát triển các chuỗi liên kết không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng mà còn giảm thiểu rủi ro cho người nuôi, đúng với tinh thần "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" mà Bộ trưởng đã nhấn mạnh. Các hình thức nuôi sẽ được đa dạng hóa, phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, từ nuôi lồng bè, nuôi thả đến nuôi sinh thái.
Song song đó, hệ thống sản xuất giống, thức ăn và vật tư sẽ được phát triển tại chỗ, ưu tiên các loài bản địa, gắn với chuỗi liên kết. Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ cũng sẽ được đầu tư đồng bộ tại các vùng sản xuất tập trung.
Một hướng đi quan trọng khác là phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản hồ chứa thông qua áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, chỉ dẫn địa lý và đẩy mạnh xúc tiến thương mại.
Tại lễ tổng kết xuất khẩu thủy sản năm 2025 do Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam tổ chức, Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến cho biết, năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn – mức cao nhất từ trước đến nay. Kim ngạch xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD, chưa kể khoảng 250 triệu USD từ bột cá.
Đáng chú ý, cộng đồng doanh nghiệp đã thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt khi nhanh chóng chuyển hướng thị trường, mở rộng sang Trung Quốc, châu Âu và châu Phi trong bối cảnh thị trường Hoa Kỳ biến động.
Với nền tảng này cùng ba trụ cột phát triển gồm chuyển đổi số - khoa học công nghệ, kinh tế xanh - tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng, ngành thủy sản đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 14-16 tỷ USD vào năm 2030.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, ngoài các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra, ngành còn nhiều dư địa phát triển, đặc biệt là nuôi biển, rong tảo biển và nuôi trồng thủy sản hồ chứa - những lĩnh vực có tiềm năng lớn trong nâng cao giá trị gia tăng.
Song song với đó, công tác gỡ "thẻ vàng" IUU đang được triển khai quyết liệt, với các giải pháp như quản lý tàu cá qua hệ thống giám sát hành trình, số hóa truy xuất nguồn gốc và xử lý nghiêm các vi phạm. Mục tiêu là xây dựng một ngành thủy sản minh bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, ngành thủy sản được định hướng phát triển với tinh thần "kỷ cương trách nhiệm, chủ động hiệu quả, đổi mới sáng tạo, tăng tốc bứt phá, tăng trưởng bền vững".
Trong đó, thúc đẩy các chuỗi liên kết xanh sẽ là giải pháp then chốt để tháo gỡ các "điểm nghẽn" hiện hữu. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân được kết nối chặt chẽ trong một hệ sinh thái sản xuất hiện đại, nông nghiệp không chỉ nâng cao giá trị mà còn đảm bảo phát triển bền vững, thích ứng với những biến động của thị trường và môi trường.
Đỗ Hương