Thân tích tam lang ở Miếu Ao có nhiêu dị bản khác nhau, truyền thuyết dân gian kể lại rằng: Ngày xưa có một chàng trai tên Đức và một cô gái tên Thanh Nữ. Đôi trai gái này bố mẹ đều mất sớm, phải đi ở cho một nhà giàu, hai người chăn trâu cắt cỏ, lao động vất vả quanh năm. Lớn lên họ trở thành một đôi vợ chồng chung sống với nhau đến lúc 70 tuổi, hai người vẫn không có con. Một đêm tháng 6, Đức (người chồng) nằm ngủ, còn vợ là Thanh Nữ quảy vò đi gánh nước, chợt thấy một ngôi sao băng qua trước mặt rồi rơi xuống giếng, bà liền dùng chiếc gàu bằng mo cau múc nước đổ vào vò. Tự nhiên nước trong vò bắn ra tung tóe thành rất nhiều ngôi sao nhỏ. Thanh Nữ gánh về nhà mình đổ vào vại nước. Sáng mai thấy một vại nước trong xanh lạ lùng, hai người dùng nước này để nấu cơm ăn và nước uống. Từ đó mỗi ngày, mỗi người đều thấy khỏe mạnh và trẻ ra, rồi Thanh Nữ mang thai, ít lâu sau nàng đẻ ra một con Hoàng Xà, đầu con rắn thấy hao hao giống đầu người. Lúc đầu thấy cảnh tượng này hai vợ chồng đều lo sợ, nhưng rồi họ động viên nhau, chắc đây là lộc của trời, mình phải chăm sóc con mình, biết đâu sau này nó sẽ trở thành người khôn lớn. Ba năm sau thì hoàng xà đi đứng được.

Một hôm, người chồng vác ven đi xắn bờ, Hoàng xà chạy theo quấn lấy chân, không may lưỡi xẻng va phải làm nó đứt thành ba khúc, máu chảy lênh láng, chỉ trong chốc lát không thấy dấu vết con Hoàng xà đâu nữa. Sau đó người ta tìm thấy một khúc ở đền Đại Hai, xã Thạch Lạc, một khúc ở đền Ao (ngày nay) và một khúc ở Cồn Hội (tức là Miếu hội) xã Đồng Tiến. Từ đó dân làng lập miếu thờ.
Sách "An Tĩnh cổ lục" (xuất bản 1936) có ghi rằng trên đường đi đánh Chiêm Thành thuyền của vua Lê Thánh Tông khi qua đây đã bất ngờ dừng lại nơi này bởi tác động của một lực huyền bí nào đó, những chiếc chèo không chịu khua xuống nước và gió yếu đi một cách bất thường. Sau khi cho tổ chức nghi lễ cầu Thành Hoàng làng, ngay lúc đó, gió tứ phương nổi lên và đẩy đoàn thuyển đi nhanh đến kỳ lạ tới tận phương nam. Thắng lợi trở về, vua Lê Thánh Tông cho lập miếu thờ và phong thần theo thứ bậc cho người bảo vệ vùng trời nước Nam và miếu Ao xuất hiện từ đó.

Tài liệu có ảnh minh họa của Đặng Văn An và Nguyễn Quang Liệu dịch từ bản tiếng Pháp ngôi miếu có hình dáng kiến trúc độc đáo, với đầy đủ tính cổ, tính uy nghiêm và cách cấu trúc độc nhất vô nhị theo kiểu thủy tạ. Qua nhiều thời đại, qua nhiều cuộc chiến tranh và thiên tai, ngôi miếu vẫn an toàn và lúc nào cũng được nhân dân trên địa bàn, trong khu vực chăm sóc, hương khói cẩn thận, chu đáo.
Ban quản lý miếu đã nghiên cứu hai đạo sắc do Vua Duy Tân (ngày 11/8/1919) và vua Khải Định (ngày 25/7/1925) ban cấp cho nơi đây thờ vị thần Tam Lang Long Vương mà Giáp Phúc Kiêm được phép phụng sự. Như chúng ta đã biết thân Tam Lang Long Vương từ hồi xưa cũng như bây giờ cực kỳ linh ứng, có nhiều công tích bảo quốc hộ dân, được nhân dân tôn sùng, ngưỡng mộ, được các triều đại nhà Vua tín phục, ban phong nhiều đạo sắc cao quý từ thấp đến cao: " Dực bảo trung hương linh phù chỉ thần" Tiếp đến là “ Uông nhuận dực, bảo trung hưng thượng đẳng chỉ thần" là thần hiệu cao nhất của các vị thần được tôn thờ trong các đền miếu.

Miếu Ao được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2005. Lễ Kỳ phúc lục ngoạt được tổ chức vào ngày 01/6 AL hàng năm là ngày lễ chính tại di tích. Chúng ta hôm nay và cả mãi mãi về sau cần tri ân và tổ chức lễ tế trang trọng nhằm tôn vinh và phát huy giá trị cao đẹp của di tích lịch sử văn hoá miếu Ao trong sinh hoạt đời sống tâm linh của nhân dân trên địa bàn, trong khu vực và các vùng phụ cận, để xứng đáng với công lao to lớn của vị thần Tam Lang Long Vương đã bảo quốc hộ dân trong đời sống hôm nay và cả mai sau.