Từ rơm rạ, chuối chín đến những giá trị mới
Sau mỗi vụ lúa, lượng rơm rạ còn lại trên đồng ruộng thường được xử lý bằng cách đốt. Trong khi đó, tại các vùng trồng chuối, tình trạng tiêu thụ chậm khiến nhiều nhà vườn phải đối mặt với nguy cơ chuối chín quá lứa, giảm giá trị hoặc hư hỏng. Những phụ phẩm tưởng chừng khó tận dụng này đang mở ra hướng tiếp cận mới cho sản xuất nông nghiệp: chuyển từ xử lý chất thải sang tái sử dụng tài nguyên theo mô hình kinh tế tuần hoàn.
Tại Tây Ninh, hướng đi này được thể hiện qua các hoạt động tuyên truyền, vận động nông dân không đốt rơm rạ và những sáng kiến tận dụng chuối chín để sản xuất chế phẩm phục vụ cây trồng.
Trong khuôn khổ Dự án “Tuyên truyền, vận động nông dân áp dụng canh tác lúa thân thiện với môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050”, Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh đã tổ chức hội thảo kết nối dự án tại phường Long An, với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
Tại hội thảo, Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh và Công ty Phát triển nông nghiệp Phương Nam thống nhất tuyên truyền, vận động nông dân cam kết không đốt rơm rạ sau thu hoạch, đồng thời chuyển giao và ứng dụng chế phẩm sinh học Sumitri để phân hủy rơm rạ trực tiếp trên đồng ruộng.
Theo tài liệu dự án, phương pháp này hướng tới tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần cải tạo đất, giảm phát thải khí nhà kính và hạn chế ô nhiễm môi trường. Thay vì đốt bỏ, rơm rạ được xử lý để tiếp tục tham gia vào chu trình sản xuất, qua đó tận dụng nguồn hữu cơ sẵn có và giảm lãng phí tài nguyên.
Dự án được triển khai tại bốn địa bàn gồm Long Thuận, Phước Chỉ, Hiệp Hòa và Hòa Khánh, nằm ngoài vùng Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao của tỉnh. Việc triển khai tại các địa phương này được kỳ vọng góp phần mở rộng khả năng tiếp cận kỹ thuật canh tác thân thiện với môi trường cho nông dân.
Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh, Trưởng ban Quản lý Dự án Lúa tỉnh, mục tiêu của dự án không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác mà còn hướng tới giảm chi phí đầu vào, quản lý hiệu quả nguồn nước và rơm rạ.
Ông Tùng nhấn mạnh, điều quan trọng là lợi ích của việc giảm phát thải phải được thể hiện qua chi phí sản xuất giảm, giá trị nông sản tăng và đầu ra ổn định hơn cho nông dân.
Đây cũng là điều kiện quan trọng để kinh tế tuần hoàn đi vào thực tiễn. Khi phụ phẩm được tận dụng hiệu quả, sản xuất không chỉ hướng tới nâng cao năng suất mà còn phải bảo đảm chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm, giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Tận dụng chuối chín, mở thêm hướng sản xuất
Nếu mô hình xử lý rơm rạ hướng phụ phẩm trở lại đồng ruộng, thì tại xã Phước Lý, tỉnh Tây Ninh, anh Trần Anh Thy lựa chọn một cách tiếp cận khác: tận dụng chuối chín dư thừa để tạo ra sản phẩm phục vụ cây trồng.
Theo anh Thy, khi thị trường tiêu thụ chậm, chuối chín nhanh trở thành áp lực đối với nhà vườn. Nếu bán ngay trong thời điểm giá thấp, giá trị thu về không cao; nếu để lâu, chuối có nguy cơ hư hỏng, gây lãng phí nguyên liệu.
Từ thực tế đó, năm 2022, anh bắt đầu nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện chế phẩm dịch chuối cùng GE nha đam bằng phương pháp lên men sinh học.
Theo thông tin do anh Thy cung cấp, dịch chuối được sử dụng cho hoa lan, cây cảnh, rau màu và cây ăn trái. Sau quá trình lên men, sản phẩm được kiểm tra các tiêu chí về mùi, tình trạng nấm mốc, độ pH và thời gian bảo quản. Cụ thể, sản phẩm có mùi thơm dịu, không mốc, độ pH khoảng 3,5–4,5 và thời gian bảo quản từ 6–12 tháng.
Mô hình không chỉ hướng tới tận dụng nguồn nguyên liệu dư thừa mà còn tạo thêm giá trị từ quá trình chế biến. Dịch lên men được sử dụng làm sản phẩm phục vụ cây trồng, trong khi phần bã tiếp tục được tận dụng để làm phân hữu cơ.
Theo hồ sơ giải pháp dự thi Hội thi Sáng tạo kỹ thuật nhà nông tỉnh Tây Ninh lần thứ I, năm 2025–2026, sản phẩm dịch chuối đã được đưa lên các nền tảng bán hàng trực tuyến, ghi nhận gần 10.000 lượt bán trên TikTok Shop và Shopee. Sản phẩm GE nha đam cũng ghi nhận hơn 529 lượt bán trên TikTok Shop và 317 lượt bán trên Shopee.
Những kết quả này cho thấy tiềm năng phát triển sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp thông qua kết hợp kỹ thuật chế biến và các kênh phân phối trực tuyến. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả của mô hình, cần xem xét thêm chi phí sản xuất, khả năng duy trì chất lượng, hiệu quả sử dụng trên cây trồng và tính ổn định của thị trường tiêu thụ.
Từ rơm rạ đến chuối chín, điểm chung của các mô hình là thay đổi cách nhìn về phụ phẩm. Khi được xử lý phù hợp, những nguyên liệu từng bị xem là chất thải có thể trở thành nguồn lực cho sản xuất, góp phần giảm lãng phí và mở ra cơ hội gia tăng thu nhập.
Những rào cản trên hành trình phát triển kinh tế tuần hoàn
Thực tế cho thấy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đã được triển khai thông qua nhiều hình thức, từ sản xuất phân bón hữu cơ bằng chế phẩm vi sinh, tận dụng chất thải chăn nuôi đến phát triển các mô hình trồng trọt gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Theo ông Hà Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, một số mô hình ứng dụng kinh tế tuần hoàn đã góp phần tối ưu hóa quy trình sản xuất, tăng thu nhập khoảng 15% so với mô hình truyền thống. Bên cạnh đó, các mô hình chăn nuôi trâu, bò thịt tuần hoàn gắn với liên kết tiêu thụ tại Phú Thọ, Hưng Yên, Lào Cai, Tuyên Quang và Hà Nội còn tận dụng chất thải để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ cây trồng.
Dù có tiềm năng, quá trình nhân rộng các mô hình này vẫn gặp nhiều khó khăn. Khung chính sách về phát triển kinh tế tuần hoàn chưa hoàn thiện; liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị còn hạn chế; nhiều hợp tác xã chưa phát huy hiệu quả vai trò tổ chức sản xuất, khiến việc đầu tư công nghệ và áp dụng quy trình mới gặp trở ngại.
Ở nhiều địa phương, hoạt động phổ biến mô hình nông nghiệp tuần hoàn chưa đáp ứng đầy đủ đặc điểm của từng vùng sinh thái, nhóm sản phẩm và quy mô sản xuất. Không ít mô hình còn mang tính tự phát, thiếu liên kết vùng, thiếu nguồn lực hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và đầu ra thị trường.
Theo bà Bùi Thị Hạnh Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Kinh doanh, Chế biến nông sản Bảo Minh, phát triển nông nghiệp tuần hoàn hiện vẫn còn rời rạc, chưa hình thành chuỗi khép kín từ giống, canh tác, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ và tái tạo tài nguyên.
Bà cho rằng tư duy sản xuất tuyến tính, chú trọng tăng năng suất nhưng chưa quan tâm đầy đủ đến tác động môi trường vẫn là vấn đề cần thay đổi. Nếu các khâu sản xuất không được tổ chức đồng bộ, việc tận dụng phụ phẩm ở một công đoạn khó tạo thành hệ thống tuần hoàn hiệu quả.
Thực tế này cho thấy công nghệ chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi. Để mô hình vận hành ổn định, cần đồng thời giải quyết bài toán tổ chức sản xuất, kết nối thị trường, huy động nguồn lực và phân bổ lợi ích giữa các bên tham gia.
Từ giảm phát thải đến tạo ra đa giá trị
Chuyển đổi xanh đang mở ra cơ hội đổi mới mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp và bền vững. Quá trình này đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ phương thức canh tác, công nghệ chế biến đến quản lý tài nguyên và tổ chức thị trường.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quá trình chuyển đổi đang được triển khai trên nhiều lĩnh vực, gồm cơ cấu lại sản xuất, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp phát thải thấp, công nghệ sinh học, công nghệ cao, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, tiêu chuẩn, quy chuẩn và truy xuất nguồn gốc.
Cách tiếp cận này hướng tới chuyển đổi từ mô hình chủ yếu dựa vào năng suất, sản lượng sang phát triển đa giá trị, kết hợp hiệu quả kinh tế với lợi ích môi trường, xã hội và khả năng chống chịu của hệ thống sản xuất.
Tuy nhiên, nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn ở Việt Nam vẫn chưa hình thành được hệ thống vận hành đồng bộ trên quy mô lớn. Nhiều kết quả còn phân tán giữa các mô hình sản xuất, chương trình nghiên cứu, nhiệm vụ môi trường, hệ thống dữ liệu và thị trường.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, để phát triển hệ thống lương thực bền vững dựa trên các mô hình nông nghiệp sinh thái, cần thực hiện những chuyển đổi căn bản: từ hộ sản xuất riêng lẻ sang quản trị vùng sinh thái; từ sản phẩm đơn lẻ sang chuỗi giá trị; từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả; đồng thời chuyển từ hỗ trợ từng mô hình sang đầu tư cho năng lực của cả hệ thống.
Theo ông, hỗ trợ nông dân mua vật tư mới chỉ giải quyết một phần vấn đề. Quan trọng hơn là đầu tư cho hệ sinh thái hỗ trợ sản xuất, bao gồm hạ tầng thủy lợi, kho bãi, logistics, dữ liệu, dịch vụ kỹ thuật, khuyến nông và năng lực tổ chức sản xuất.
Một mô hình tại Hợp tác xã Toản Xuân, tỉnh Ninh Bình, cho thấy việc tận dụng phụ phẩm có thể gắn trực tiếp với hiệu quả kinh tế của chuỗi sản xuất lúa gạo.
Theo ông Trần Quốc Toản, Giám đốc hợp tác xã, đơn vị đang chuyển từ phương thức sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào hóa học sang tăng cường thực hành tuần hoàn, với trọng tâm là phục hồi đất và đưa phụ phẩm trở lại phục vụ sản xuất.
Cụ thể, trấu được ép viên làm nhiên liệu sấy và cung cấp cho các cơ sở sử dụng năng lượng sinh khối. Một phần trấu được đưa đến các trang trại chăn nuôi để làm đệm lót sinh học. Nguồn phân sau đó được thu hồi, xử lý thành phân hữu cơ phục vụ vùng nguyên liệu.
Theo thông tin từ hợp tác xã, việc thay thế than bằng trấu ép viên giúp chi phí sấy giảm từ khoảng 80.000 đồng xuống còn 50.000 đồng/tấn thóc. Kết quả này cho thấy tận dụng phụ phẩm không chỉ góp phần giảm chất thải mà còn có thể trực tiếp tiết kiệm chi phí sản xuất.
Năm 2026, Hợp tác xã Toản Xuân tiếp tục xây dựng vùng lúa hữu cơ sinh thái tập trung tại khu vực bãi bồi xã Giao Minh, tỉnh Ninh Bình, hướng tới đáp ứng tiêu chuẩn USDA Organic. Để mô hình phát triển ổn định, hợp tác xã cho rằng cần có thêm chính sách hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, thu gom và xử lý phụ phẩm, tiếp cận chứng nhận và duy trì liên kết lâu dài với nông dân.
Chia sẻ lợi ích để chuyển đổi bền vững
Từ các mô hình thực tiễn có thể thấy, phát triển nông nghiệp xanh không chỉ phụ thuộc vào khả năng ứng dụng công nghệ hay thay đổi quy trình sản xuất. Yếu tố quyết định còn nằm ở cách tổ chức chuỗi giá trị và phân bổ lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
Chi phí chuyển đổi thường phát sinh ngay từ đầu, trong khi lợi ích về môi trường, chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường có thể cần thời gian mới thể hiện rõ. Nếu thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp, nông dân có nguy cơ phải gánh phần lớn chi phí chuyển đổi, trong khi giá trị gia tăng tập trung ở những khâu khác trong chuỗi.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa tổng giá trị; từ quản lý từng hộ riêng lẻ sang tổ chức sản xuất theo vùng sinh thái; từ tiêu thụ sản phẩm đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị; đồng thời đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả kinh tế, xã hội và môi trường.
Nguồn lực hỗ trợ cũng cần được ưu tiên cho hạ tầng, dữ liệu, khuyến nông, nghiên cứu ứng dụng và nâng cao năng lực của hợp tác xã. Đặc biệt, cơ chế hợp tác và chia sẻ lợi ích cần được thiết kế phù hợp để mỗi bên đều có động lực tham gia lâu dài.
Khi nông dân có thu nhập tốt hơn nhờ áp dụng quy trình xanh, hợp tác xã đủ năng lực tổ chức vùng nguyên liệu, còn doanh nghiệp có nguồn cung ổn định và sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường, chuyển đổi xanh mới có thể tạo ra giá trị bền vững cho toàn chuỗi.
Đích đến của nông nghiệp tuần hoàn không chỉ là giảm phát thải hay xử lý tốt hơn những gì từng được coi là chất thải. Đó còn là tổ chức lại hoạt động sản xuất theo hướng sử dụng tài nguyên hiệu quả, biến phụ phẩm thành nguồn lực, nâng cao giá trị nông sản và bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các chủ thể.
Từ những mô hình tận dụng rơm rạ, chuối chín ở Tây Ninh đến chuỗi sản xuất lúa gạo tại Ninh Bình, kinh tế tuần hoàn đang mở ra những hướng đi thiết thực cho nông nghiệp Việt Nam. Để những mô hình này phát triển rộng hơn, cần sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách, công nghệ, tổ chức sản xuất và thị trường. Đây cũng là nền tảng để nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu nông sản và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu về môi trường, xã hội và phát triển bền vững.
